Membership Membership:
Latest New User Latest: Công Tùng
Past 24 Hours Past 24 Hours: 0
Prev. 24 Hours Prev. 24 Hours: 0
User Count Overall: 14
People Online People Online:
Visitors Đang online: 2851
Members Thành viên: 0
Total Tổng số: 39.517.900
Online Now Online Now:
Liên hệ TT KNQG

Thái Nguyên: Tổ dịch vụ bảo vệ thực vật xóm Văn Hữu phát huy hiệu quả

Cập nhật: 28/02/2017 11:45

Trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ cây trồng là điều cần thiết, không thể tránh khỏi. Tuy nhiên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách sẽ gây lãng phí, mất an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường và mất an toàn cho cả người sản xuất; việc lạm dụng thuốc BVTV đã và đang diễn ra trên cây chè cũng như các loại cây trồng khác.

Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước. Đến hết năm 2016 diện tích chè toàn tỉnh có hơn 21.300 ha, trong đó có gần 19.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 113 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt hơn 211 nghìn tấn.

Được sự chỉ đạo của Cục Bảo vệ thực vật, trực tiếp là Trung tâm BVTV phía Bắc, sự giúp đỡ của tổ chức Croplife Việt Nam, năm 2013 Chi cục Bảo vệ thực vật (nay là Chi cục Trồng trọt và BVTV) tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng mô hình “Tổ dịch vụ bảo vệ thực vật trên cây chè” tại xóm Văn Hữu, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên) với diện tích 5 ha chè.

Tổ dịch vụ gồm 3 người do ông Nguyễn Văn Thịnh là tổ trưởng được dự án hỗ trợ 03 máy phun thuốc động cơ (năm 2013 dự án hỗ trợ mua 01 máy, năm 2015 hỗ trợ mua 02 máy). Các tổ viên tổ dịch vụ BVTV được tập huấn, hướng dẫn chuyên sâu về phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh và biện pháp phòng trừ sâu bệnh an toàn, hiệu quả; vận hành và bảo quản bình phun thuốc động cơ; được trang bị, sử dụng bảo hộ lao động đảm bảo an toàn trong quá trình phun thuốc BVTV. Tất cả các hộ nông dân làm chè tham gia mô hình cũng đều được tập huấn kỹ thuật, chuyên môn về thuốc BVTV; các loại dịch hại trên cây chè và phương pháp quản lý dịch hại; an toàn vệ sinh thực phẩm…

Nhiệm vụ của tổ dịch vụ là điều tra sâu bệnh, tư vấn kỹ thuật, tư vấn thuốc BVTV và phun thuốc trừ sâu, trừ cỏ cho các hộ tham gia mô hình. Tổ chỉ thực hiện phun thuốc theo kết quả điều tra khi phát hiện dịch hại trên nương chè, không phun định kỳ như trước. Vỏ bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng được thu gom vào nơi quy định, thay vì vứt bừa bãi trên vườn chè như trước kia. Hàng tháng tổ dịch vụ báo cáo và thường xuyên kết hợp với kỹ thuật viên của Trạm Trồng trọt và BVTV huyện kiểm tra và đưa ra dự báo tình hình sâu bệnh tại các vườn chè trong mô hình.

Ông Nguyễn Văn Thịnh, tổ trưởng tổ dịch vụ BVTV xóm Văn Hữu cho biết, với mỗi máy động cơ xăng khả năng phun thuốc tối đa được khoảng 0,5 – 0,8 ha/ngày (15 -20 bình/ngày), các tổ viên thu tiền dịch vụ phun thuốc BVTV theo giá thỏa thuận. Phun bằng máy động cơ áp lực thuốc phun ra mạnh, thuốc tơi, nhỏ dễ dàng đến được các vị trí cần thiết trên cây chè, hiệu quả cao hơn máy phun thuốc thông thường. Hiện nay, tổ dịch vụ đã tạo được lòng tin cho người làm chè. Năm 2013 tổ dịch vụ chỉ phục vụ diện tích 5 ha chè của mô hình. Năm 2015 mở rộng quy mô lên 30 ha chè trên địa bàn xóm Văn Hữu, xã Hóa Thượng. Đến đầu năm 2017, tổ mở rộng quy mô phục vụ lên trên 40 ha chè và trên 70 ha lúa trên địa bàn các xã Hóa Thượng và Hóa Trung (huyện Đồng Hỷ).

Phun thuốc trừ sâu cho cây chè

Theo ông Hứa Văn Phúc, Trưởng Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Đồng Hỷ, người làm chè đã thay đổi thói quen khi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, đã lựa chọn được đúng thuốc và phun đúng thời điểm; giảm được 30 -50% số lần phun thuốc BVTV. Người dân tham gia mô hình giảm được chi phí sản suất đầu vào, năng suất chè vẫn ổn định, thu nhập cho người làm chè được nâng lên.

Có thể thấy mô hình tổ dịch vụ BVTV là hướng đi đúng trong sản xuất chè bền vững, phát huy hiệu quả đối với người làm chè nói riêng, với người sản xuất nông nghiệp nói chung. Qua đó giảm được số người tiếp xúc với thuốc BVTV, tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng, bảo vệ sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng và bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời, thông qua các tổ dịch vụ cơ quan quản lý nhà nước sẽ quản lý thuốc BVTV thuận lợi hơn, dễ kiểm soát nguồn thuốc, quy trình sử dụng thuốc BVTV cũng như kiểm soát được tình hình sâu, bệnh trên cây trồng... Mô hình cần nhân rộng trên các địa bàn sản xuất nông nghiệp, góp phần xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở các địa phương./.

Dương Trung Kiên

Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên

Scroll