Đang Online:
1.628

Đã truy cập:
73.860.993
Liên hệ TT KNQG

Tuyên Quang: Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất chè

Cập nhật: 02/08/2017 15:17
Tuyên Quang: Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất chè Chăm sóc chè tại Công ty Cổ phần Chè Mỹ Lâm

Cây chè được trồng tại Tuyên Quang từ gần 60 năm nay. Năm 1954, sau khi đánh thắng thực dân Pháp, miền Bắc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, nhận thấy giá trị của cây chè đối với các tỉnh miền núi, Chính phủ đã quyết định chuyển Trung đoàn 242 sang xây dựng Nông trường chè Tháng 10, Nông trường chè Sông Lô và Nông trường chè Tân Trào để khai hoang, tổ chức trồng chè xuất khẩu. Từ đó cây chè bám trụ và lan rộng ra nhiều xã và một số huyện trong tỉnh...

Kết quả đạt được

Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, ngành và sự chỉ đạo các địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi để người trồng chè, các doanh nghiệp, hợp tác xã chế biến chè tích cực đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Năm 2016, toàn tỉnh có 8.859 ha chè, trong đó có 8.414 ha chè cho thu hoạch, năng suất chè bình quân toàn tỉnh 79 tạ/ha. Cơ cấu giống chè có trên 15 giống, chủ yếu là giống chè Trung du, các giống chè lai, các giống chè đặc sản nhập nội mới và giống chè Shan. Sản xuất, chế biến chè đã có những bước phát triển nhất định, đã có trên 830 ha, chiếm 9,5% diện tích chè toàn tỉnh được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế (RA, VietGAP). Năm 2016, các cơ sở chế biến được 8.681 tấn chè thành phẩm, trong đó 5.121 tấn chè xanh, 3.560 tấn chè đen. Các Công ty CP chè Mỹ Lâm, Tân Trào, Sông Lô đã chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến, xây dựng được thị trường xuất khẩu ổn định; có 10 nhãn hiệu chè của các doanh nghiệp, hợp tác xã được công nhận, nhiều sản phẩm được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng như: Hợp tác xã Vĩnh Tân, xã Tân Trào (Sơn Dương) có 120 ha chè đặc sản Bát tiên, Ngọc Thúy, đã đăng ký độc quyền sản phẩm nhãn hiệu hàng hóa với Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ; Tổ hợp tác sản xuất chè Làng Bát, xã Tân Thành (Hàm Yên) có 30 thành viên với diện tích 16 ha sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, thu nhập bình quân của các tổ viên là 150 triệu đồng/năm.

Tồn tại, hạn chế

 Sản xuất kinh doanh chè chưa đạt được kết quả tương xứng với tiềm năng của địa phương. Thâm canh chè ở nhiều địa phương thiếu bền vững, chủ yếu chăm bón bằng phân vô cơ nên vườn chè già cỗi nhanh, năng suất chè không đồng đều; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nơi không tuân thủ nguyên tắc “4 đúng” dẫn đến chất lượng chè búp thấp. Sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP chậm nhân rộng. Các chính sách hỗ trợ phát triển cây chè chậm được triển khai thực hiện trong sản xuất, kinh doanh chè.

Giải pháp phát triển cây chè

Theo định hướng của tỉnh đến năm 2020, diện tích chè 8.886 ha, trong đó có gần 8.000 ha chè cho thu hái, năng suất bình quân 90 tạ/ha, tăng trên 10 tạ/ha so với năm 2016, sản lượng chè búp tươi đạt 70.495 tấn. Để phát triển cây chè của tỉnh giai đoạn 2017 - 2020 theo hướng bền vững, có hiệu quả cao theo chuỗi giá trị, cần tập trung vào các nhiệm vụ và giải pháp chính sau:

- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch: Quy hoạch vùng nguyên liệu chè cho các nhà máy, cơ sở chế biến chè gắn với năng lực lực chế biến, nhu cầu thị trường. Định hướng phát triển vùng nguyên liệu chè gắn với phát triển du lịch phù hợp điều kiện ở từng địa phương. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nguyên liệu chè gắn với nhà máy chế biến, nâng cao hiệu quả đầu tư, sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động.

- Áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đẩy mạnh liên kết trong sản xuất: Trồng thay thế 655 ha chè Trung du già cỗi, năng suất thấp bằng các giống chè có năng suất, chất lượng cao; trồng mới khoảng 400 ha các giống chè đặc sản tại các xã quy hoạch vùng chè huyện Na Hang, Lâm Bình.

Đẩy mạnh đầu tư, thâm canh, thu hái chè theo đúng quy trình kỹ thuật. Mở rộng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất; sử dụng phân bón hữu cơ, phân vi sinh, chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học để giảm dần phân bón vô cơ và thuốc hóa học trong kinh doanh vườn chè. Tập trung cải tạo, chăm sóc để khai thác hiệu quả diện tích chè Shan hiện có.

Mở rộng liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở chế biến với người trồng chè; áp dụng đồng bộ hệ thống quản lý chất lượng từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm chè. Chú trọng phát triển các thương hiệu sản phẩm, ứng dụng quy trình sản xuất chè hữu cơ, chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Thành lập các tổ dịch vụ phun thuốc bảo vệ thực vật;

Đánh giá, hoàn thiện mô hình tổ chức sản xuất mới của Công ty CP chè Mỹ Lâm để nhân ra diện rộng.

- Đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến: Đầu tư cải tạo, nâng cấp dây truyền công nghệ hiện đại sản xuất các sản phẩm chè chất lượng cao phục vụ xuất khẩu; đa dạng hoá sản phẩm nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất.

Thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác trồng, chế biến chè theo tiêu chuẩn VietGAP với mục tiêu là chế biến chè xanh nội tiêu để tăng giá bán sản phẩm chè. Áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) trong sản xuất, chế biến chè; từng bước áp dụng các tiêu chuẩn ISO, HACCP… trong quản lý chất lượng sản phẩm.

- Tăng cường quảng bá thương hiệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm: Củng cố mối quan hệ với Hiệp hội chè, Tổng Công ty chè Việt Nam để mở rộng thị trường xuất khẩu; tìm kiếm, phát triển thị trường nội địa. Gắn phát triển thương hiệu sản phẩm chè với địa danh, đáp ứng mục tiêu "mỗi làng một sản phẩm"

Tiếp tục xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa cho các sản phẩm chè, nhất là các vùng chè đặc sản; đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm đã có thương hiệu; tìm hiểu, giới thiệu các nhà phân phối có uy tín, các siêu thị trong và ngoài tỉnh tiêu thụ các sản phẩm chè chất lượng cao, chè đặc sản của Tuyên Quang.

- Thực hiện tốt cơ chế, chính sách: Triển khai hiệu quả các cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất chè của tỉnh. Chú trọng hỗ trợ xây dựng các vùng sản xuất tập trung, liên kết sản xuất; ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng vườn chè; xây dụng, phát triển thương hiệu...

Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách khuyến khích phát triển phù hợp, làm chuyển biến căn bản sản xuất, chế biến chè của tỉnh.

-  Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong sản xuất, kinh doanh chè.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh, sử dụng giống, phân bón, thuốc BVTV trên chè. Kiểm tra, đánh giá, phân loại cơ sở chế biến theo Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Tổ chức tập huấn kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV, kỹ thuật thâm canh chè; tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của việc sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật; hướng dẫn người trồng chè thực hiện IPM, VietGAP.../.

Lê Hải Nam

Trung tâm Khuyến nông Tuyên Quang

 
   
Scroll