Công nghệ enzyme: từ mô hình chuyển giao đến sản phẩm hàng hóa

    HTX Sản xuất Nước mắm Nam Hải (phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) đã ứng dụng công nghệ enzyme trong chế biến chả mực và đưa vào tổ chức sản xuất ở quy mô thực tế. Đến cuối tháng 9/2026, HTX đã sản xuất khoảng 2,1 tấn chả mực ứng dụng enzyme, vượt 0,7 tấn so với quy mô kế hoạch ban đầu 1,4 tấn/năm, tương đương đạt khoảng 150% kế hoạch. Theo thông tin được ghi nhận tại mô hình, doanh thu của HTX tăng khoảng 20%/năm sau khi đưa sản phẩm mới vào thị trường.

    Giải pháp công nghệ tập trung vào xử lý nguyên liệu mực bằng enzyme kết hợp kiểm soát nhiệt độ, thời gian, tỷ lệ enzyme, công đoạn tạo gel và an toàn thực phẩm. Công nghệ giúp khắc phục một phần nhược điểm về độ cứng, vị chát của nhóm nguyên liệu mực có giá trị thấp, đồng thời nâng độ dai, giòn, tính ổn định và chất lượng cảm quan của sản phẩm. Với nguyên liệu mực có mức giá khoảng 40.000 - 50.000 đồng/kg, việc chế biến sâu mở ra khả năng tạo sản phẩm chả mực ở phân khúc khoảng 200.000 - 400.000 đồng/kg, qua đó gia tăng đáng kể giá trị của nguyên liệu và mở rộng nhóm khách hàng so với phân khúc chả mực truyền thống cao cấp.

leftcenterrightdel
Đưa công nghệ xử lý nguyên liệu bằng enzyme vào sản xuất hàng hóa

    Còn Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn Từ tháng 8/2026 bắt đầu tiếp nhận công nghệ enzyme và tổ chức sản xuất theo quy trình của dự án từ tháng 8/2026. Chỉ trong hai tháng 8 và 9/2026, cơ sở đã sản xuất khoảng 600 kg chả mực ứng dụng enzyme; trong những ngày tổ chức sản xuất, công suất đạt 20 - 30 kg/ngày. Sản phẩm hiện được tiêu thụ tại Nhà hàng BOSA Thái Bình Dương của doanh nghiệp, đồng thời cơ sở đang hoàn thiện kiểm nghiệm và hồ sơ công bố để mở rộng thị trường trong tháng 10/2026.

    Được biết, cả Hợp tác xã Sản xuất Nước mắm Nam Hải và Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn đều là đơn vị tham gia thực hiện và tiếp nhận công nghệ từ dự án khuyến nông trung ương: “ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm”. Kết quả tại hai cơ sở cho thấy giá trị của dự án không chỉ nằm ở việc hoàn thiện một quy trình công nghệ mà quan trọng hơn, công nghệ đã được chuyển từ nghiên cứu sang sản xuất, được người lao động tiếp nhận, doanh nghiệp chủ động đầu tư nguyên liệu và nhân công, đồng thời gắn trực tiếp với kênh tiêu thụ.

    Đây là thước đo quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động khuyến nông: Công nghệ có khả năng “sống” sau chuyển giao và tạo động lực để cơ sở tiếp tục đầu tư, thương mại hóa sản phẩm.

 

    Lồng HDPE và quy trình VietGAP: Nâng hiệu quả, giảm rủi ro nuôi biển

    Tại khu nuôi biển Tây Hoi, đặc khu Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh), dự án “Xây dựng mô hình nuôi cá song (mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm” đã thả 4.410 con cá song giống trên quy mô 220,5 m³ năm 2026. Dự án hỗ trợ 4.630,5 kg thức ăn công nghiệp cùng 298,9 lít/kg chế phẩm, vật tư sinh học theo kế hoạch; con giống có kích cỡ 12 - 15 cm/con, khỏe mạnh và có chứng nhận kiểm dịch. Bên cạnh hỗ trợ đầu vào, người nuôi được hướng dẫn quản lý thức ăn, vệ sinh lồng bè, theo dõi môi trường, sử dụng chế phẩm sinh học, ghi chép hồ sơ và thực hiện quy trình VietGAP.

    Đến hết tháng 9/2026, đàn cá sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống dự kiến khoảng 86%, trọng lượng đạt 650 - 700 g/con. So với giai đoạn đầu nuôi, kết quả này cho thấy khả năng kiểm soát môi trường và chăm sóc đàn cá được cải thiện khi hộ nuôi áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật thay vì chỉ thay đổi vật liệu lồng. Lồng HDPE là một mắt xích quan trọng trong hệ thống kỹ thuật áp dụng vào mô hình. Vật liệu lồng có độ dẻo, bền, chống ăn mòn và thích ứng tốt hơn với sóng gió, tạo điều kiện để từng bước cơ giới hóa các khâu vệ sinh lồng, cho ăn, quản lý đàn cá. Qua thực tế sản xuất ở Vân Đồn, đại diện cơ sở nuôi cho biết một ô lồng HDPE kích thước 4 x 4 m có mức đầu tư khoảng 100 triệu đồng, cao hơn nhiều so với lồng gỗ truyền thống khoảng 10 - 15 triệu đồng/ô. Vì vậy, tùy vào khả năng tài chính, người nuôi có thể lên lộ trình chuyển đổi từng phần sau mỗi vụ nuôi, không nhất thiết phải thay thế toàn bộ trong một lần.

leftcenterrightdel
 Áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật và thay đổi vật liệu lồng nuôi cho kết quả sản xuất khả thi hơn

    Được biết, dự án được thực hiện trong giai đoạn 2025 - 2027 tại Hải Phòng và Quảng Ninh, với tổng kinh phí 3,8669 tỷ đồng. Riêng năm 2026, quy mô mô hình tại hai địa phương là 472,5 m³, trong đó Quảng Ninh 220,5 m³ và Hải Phòng 252 m³. Năm 2025, tổng lợi nhuận của mô hình đạt 635,56 triệu đồng, hiệu quả kinh tế cao hơn khoảng 69,8% so với mức 374,287 triệu đồng ngoài mô hình. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư đạt 34,65%, cao hơn mức 26,58% của phương thức đối chứng. Chi phí sản xuất 1 kg cá thương phẩm ở mô hình là 170,8 nghìn đồng/kg, thấp hơn mức 181,6 nghìn đồng/kg ngoài mô hình, giảm khoảng 10,8 nghìn đồng/kg. Các con số cho thấy dù tổng chi của mô hình công nghệ cao lớn hơn, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận và chi phí sản phẩm được cải thiện khi công nghệ được áp dụng đồng bộ.

    Riêng điểm mô hình Quảng Ninh năm 2025 đạt tổng thu khoảng 1,258 tỷ đồng, lợi nhuận 340,868 triệu đồng; trong khi phương thức ngoài mô hình có tổng thu khoảng 912,87 triệu đồng và lợi nhuận 197,547 triệu đồng. Như vậy, lợi nhuận tại điểm mô hình cao hơn khoảng 143,3 triệu đồng, tương đương tăng khoảng 72,5% so với ngoài mô hình.

 

    Khuyến nông phát huy vai trò cầu nối đưa khoa học vào thực tiễn sản xuất

    Trong hai ngày 02 - 03/10/2026, đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia do ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm làm trưởng đoàn đã kiểm tra, đánh giá và tổ chức thông tin, truyền thông các mô hình khuyến nông trong lĩnh vực thủy sản tại Quảng Ninh.

    Theo ông Hoàng Văn Hồng – Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia: “Khuyến nông sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân; lựa chọn những mô hình có hiệu quả để hoàn thiện, truyền thông và nhân rộng”.

    Thông qua hai dự án có thể thấy được tác động rõ rệt tới hai mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị thủy sản Quảng Ninh. Nếu công nghệ enzyme góp phần nâng giá trị nguyên liệu và thúc đẩy chế biến sâu thì lồng HDPE kết hợp VietGAP giúp thay đổi phương thức nuôi biển theo hướng kiểm soát đầu vào, giảm rủi ro, tăng khả năng chống chịu và nâng hiệu quả kinh tế. Điểm chung của cả hai là tiến bộ kỹ thuật được gắn với đào tạo, tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ và nhu cầu thị trường.

    Bên cạnh đó, các dự án khuyến nông được thực hiên tại Quảnh Ninh không chỉ dừng lại ở việc nâng cao năng suất, giá trị có thể “đo đếm” mà còn mang lại những hiệu quả “vô hình” bằng nhiều hoạt động như đào tạo, tập huấn hay tạo nguồn vốn “mồi” để người dân có cơ hội tiếp cận gần hơn với con giống mới, công nghệ hiện đại,…

    Từ kết quả bước đầu tại Quảng Ninh, có thể khẳng định, khuyến nông không chỉ tạo ra một mô hình trình diễn, mà còn tạo động lực để người sản xuất mạnh dạn đổi mới công nghệ, hình thành phương thức sản xuất hiện đại và nâng giá trị trên toàn chuỗi thủy sản.

leftcenterrightdel
 Doàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia kiểm tra mô hình nuôi cá song tại khu nuôi biển Tây Hoi, đặc khu Vân Đồn

Bảo Toàn

 

Xem thêm tin bài về dự án trên các báo:

Báo Dân Việt 

Báo Nông nghiệp và Môi trường

Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam

Báo Điện tử VTC NEWS

Báo Pháp luật: Bài 1; Bài 2

Chuyên trang của TTXVN