Thực tiễn triển khai Dự án Khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm ngao hai cùi (Tapes conspersus) gắn với tiêu thụ sản phẩm” giai đoạn 2024-2026 do Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản chủ trì, thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Khánh Hòa là một minh chứng. Dự án xây dựng 4 mô hình với tổng quy mô 25.600 m², 128.000 lồng nuôi. Sau khoảng 12 tháng nuôi, ngao đạt khối lượng trung bình 34,1 g/con, tỷ lệ sống 62,25%, năng suất 6,33 kg/m², tổng sản lượng khoảng 162 tấn, tỷ suất lợi nhuận trên 50%, sản phẩm được liên kết tiêu thụ. Kết quả khẳng định hiệu quả của mô hình và vai trò của hệ thống khuyến nông trong chuyển giao kỹ thuật, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và tạo cơ sở để tiếp tục phát triển nhân rộng.

 

Khuyến nông không chỉ chuyển giao kỹ thuật

Một trong những điểm nổi bật của dự án là vai trò của hệ thống khuyến nông được thể hiện xuyên suốt từ khâu lựa chọn địa điểm, lựa chọn hộ, tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đến kết nối tiêu thụ và nhân rộng mô hình.

Với vai trò cơ quan chủ quản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thực hiện công tác quản lý, điều phối, kiểm tra tiến độ, theo dõi chế độ báo cáo và phối hợp xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai, qua đó bảo đảm các nội dung thực hiện bám sát mục tiêu, tiến độ và yêu cầu kỹ thuật dự án.

Ở địa phương, cán bộ khuyến nông và cán bộ kỹ thuật phối hợp với tổ chức chủ trì dự án là lực lượng trực tiếp đồng hành với người nuôi. Từ chuẩn bị bãi, lồng nuôi, lựa chọn giống, vận chuyển và thả giống đến quản lý môi trường, chăm sóc, thu hoạch và hạch toán hiệu quả kinh tế, người dân đều được hướng dẫn cụ thể. Cán bộ theo dõi mô hình có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi tiến độ và báo cáo kết quả trong suốt quá trình sản xuất.

Vai trò này càng được thể hiện rõ trong những thời điểm thời tiết, môi trường diễn biến bất lợi. Khi bão, lũ hoặc môi trường nuôi thay đổi đột ngột, việc cán bộ kỹ thuật bám địa bàn, theo dõi các chỉ tiêu môi trường, hướng dẫn vệ sinh vùng nuôi và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh đã góp phần hạn chế rủi ro và duy trì hiệu quả mô hình.

Thực tế đó cho thấy, khuyến nông không chỉ là chuyển giao một quy trình kỹ thuật, mà quan trọng hơn là quá trình đồng hành với người dân, giúp kỹ thuật được áp dụng đúng và phù hợp với điều kiện sản xuất cụ thể. Đặc biệt, đội ngũ khuyến nông cơ sở là lực lượng gần dân, sát sản xuất, là “cầu nối” giữa cơ quan quản lý, đơn vị khoa học, đơn vị thu mua sản phẩm và người sản xuất.

leftcenterrightdel
 Cán bộ khuyến nông kiểm tra sự sinh trưởng và phát triển của ngao hai cùi trong mô hình

Từ mô hình trình diễn đến nhân rộng hiệu quả mô hình

Song song với xây dựng mô hình, dự án đã chú trọng đào tạo, tập huấn và truyền thông để mở rộng phạm vi tiếp cận. Trong giai đoạn 2024-2026, dự án tổ chức 4 lớp tập huấn trong mô hình với 56 lượt người tham gia và thực tế tổ chức 5 lớp tập huấn nhân rộng với 150 người, trong đó có cộng tác viên khuyến nông và các hộ dân có nhu cầu áp dụng kỹ thuật. Nội dung tập huấn bao quát từ kỹ thuật nuôi, quản lý môi trường, phòng bệnh đến thu hoạch, hạch toán và ghi chép nhật ký sản xuất.

Cùng với đó, 9 tin, bài, 2.100 tờ rơi và 400 cuốn tài liệu kỹ thuật được phát hành; các hội thảo tham quan, đánh giá mô hình tạo điều kiện để người dân trực tiếp quan sát, trao đổi và học hỏi.

Hiệu ứng nhân rộng là minh chứng rõ nhất cho sức lan tỏa của dự án. Ngoài các hộ trực tiếp tham gia, nhiều hộ dân tại Cô Tô, Đống Chén, Cống Nứa và Hòn Giữa đã chủ động áp dụng kỹ thuật vào sản xuất. Tỷ lệ nhân rộng toàn dự án đạt 183,5%, cao hơn nhiều so với mục tiêu tối thiểu dự án là 15%.

Kết quả này cho thấy, một mô hình khuyến nông chỉ thực sự thành công khi không dừng lại ở nghiệm thu, tổng kết mô hình mà tiếp tục được người dân duy trì và nhân rộng bằng chính nguồn lực của mình.

Trong thời gian tới, để phát huy hiệu quả của mô hình ngao hai cùi, cần tiếp tục duy trì các điểm trình diễn như những “lớp học thực tế”, phát huy các hộ nòng cốt và đội ngũ khuyến nông cơ sở trong chuyển giao kỹ thuật; đồng thời gắn nhân rộng mô hình với quy hoạch vùng nuôi, sức tải môi trường, chất lượng giống và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Từ thực tiễn dự án có thể khẳng định: mô hình là điểm khởi đầu, còn nhân rộng mới là mục tiêu lâu dài của hoạt động khuyến nông. Khi hệ thống khuyến nông làm tốt vai trò kết nối, đồng hành và lan tỏa, nguồn lực đầu tư của Nhà nước sẽ tạo ra giá trị lớn hơn, góp phần hình thành những vùng nuôi hiệu quả, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển nuôi biển theo hướng xanh, bền vững và gắn với thị trường.

Đặng Trường

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia