Năm 2025, ngành thủy sản chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan, đặc biệt tình hình bão lũ đã gây thiệt hại nặng nề, chi phí đầu vào cao, thị trường tiêu thụ và cạnh tranh quốc tế còn nhiều sức ép; Đồng thời áp lực thẻ vàng IUU, ngư trường bị thu hẹp, hạ tầng cảng cá và khu neo đậu còn hạn chế tiếp tục là những thách thức lớn đối với sản xuất và xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ và các địa phương đã giúp ngành duy trì được đà tăng trưởng thông qua hoàn thiện thể chế, tăng cường quản lý, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, nâng cao hiệu lực điều hành và hỗ trợ doanh nghiệp, ngư dân vượt khó. Đặc biệt, hệ thống khuyến nông đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức triển khai các nhiệm vụ phát triển ngành. Hoạt động khuyến nông đã tăng cường chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, quy trình nuôi an toàn sinh học, quản lý dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng sản xuất cho nông dân; cung cấp thông tin, khuyến cáo kịp thời thông qua quan trắc – cảnh báo môi trường, truyền thông giúp người nuôi chủ động ứng phó rủi ro; đồng thời hỗ trợ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thúc đẩy kết nối doanh nghiệp – hợp tác xã – người dân, góp phần giảm chi phí, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của toàn ngành.
Một số kết quả nối bật của hoạt động khuyến ngư và ngành nghề nông thôn
(1) Áp dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật (TBKT) nhằm phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Việc áp dụng đồng bộ TBKT trong các dự án khuyến ngư đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh. Các kỹ thuật nuôi tiên tiến được áp dụng vào các mô hình nuôi tôm – lúa, tôm – rừng hữu cơ và nuôi tôm áp dụng công nghệ Grofarm, nuôi tôm 2-3 giai đoạn, nuôi cá lồng bè HDPE trên biển giúp tăng năng suất, giảm chi phí đầu vào và thân thiện với môi trường, thích ứng với biến động khí hậu, hạn mặn, bão lũ. Việc chuyển giao TBKT qua các dự án khuyến ngư đã nâng cao kỹ năng sản xuất, đổi mới tư duy cho nông ngư dân, thúc đẩy áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và quy trình quản lý dịch bệnh hiệu quả, thu gom xử lý chất thải, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao nhận thức của cộng đồng sản xuất về sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên hiệu quả, góp phần tạo điều kiện cho người dân ứng phó với biến đổi khí hậu và yêu cầu thị trường xanh. Đồng thời, thông qua kết nối sản xuất – tiêu thụ và liên kết chuỗi giá trị, khuyến ngư giúp mở rộng thị trường cho sản phẩm thủy sản sạch, tăng thu nhập cho người nuôi từ 20-50% và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững.
    |
 |
| Nuôi tôm thẻ chân trắng 2 giai đoạn thích ứng với hạn mặn và xâm nhập mặn |
(2) Hình thành các vùng nguyên liệu sản xuất hàng hoá tập trung, ổn định theo chuỗi giá trị, khai thác tối đa lợi thế tại mỗi địa phương, phát triển ngành nghề, sản phẩm OCOP, xây dựng thương hiệu, gắn với du lịch sinh thái.
Hoạt động khuyến ngư phát triển các mô hình nuôi tôm nước lợ, nuôi lồng bè trên biển, nuôi thuỷ đặc sản (cá ngạnh, cá lăng chấm, cá tầm) đã góp phần quan trọng trong xây dựng và hình thành các vùng nguyên liệu sản xuất hàng hoá tập trung, ổn định theo chuỗi giá trị gắn với lợi thế từng địa phương. Thông qua các mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và tập huấn khuyến ngư giúp ngư dân và hợp tác xã tổ chức lại sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu nuôi tôm nước lợ, thúc đẩy phát triển các đối tượng thuỷ đặc sản và gắn kết với du lịch sinh thái, xây dựng thương hiệu sản phẩm góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại địa phương. Các mô hình đã đem lại lợi ích kép giúp gia tăng giá trị sản phẩm, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương đặc biệt khu vực miền núi có lợi thế sông hồ, phát huy hiệu quả vai trò cảu tổ khuyến nông cộng đồng tại cơ sở. Một số mô hình đã cho hiệu quả đạt trên 15%, nhân rộng được trên 20% so với quy mô dự án.
    |
 |
| Mô hình nuôi ngao hai cùi gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm |
(3) Áp dụng cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất thuỷ sản tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập và hiệu quả sản xuất góp phần phát triển vùng sản xuất hàng hoá tập trung.
Năm 2025 hoạt động khuyến ngư triển khai các dự án ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất muối và khai thác, chế biến sản phẩm thuỷ sản tại các tỉnh ven biển đã mang lại nhiều hiệu quả rõ rệt cả về kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Việc trang bị máy móc, thiết bị hiện đại như hệ thống nhật ký điện tử, thiết bị bảo quản lạnh, tời thuỷ lực thu lưới, đèn led, cơ giới hoá khâu sơ chế, chế biến sản phẩm… giúp nâng cao hiệu quả khai thác, tăng năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm. Cụ thể:
Mô hình sản xuất muối được hỗ trợ máy lu lèn, máy tời để cơ giới hóa khâu làm đất, cơ giới hóa khâu thu gom vận chuyển muối từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Kết quả bước đầu, mô hình giúp giảm lao động thủ công nặng nhọc năng suất đạt trên 90 tấn/ha/vụ, hiệu quả kinh tế của mô hình tăng 20% so với sản xuất ngoài mô hình, chất lượng muối sạch, ít tạp chất.
    |
 |
| Hỗ trợ máy lu lèn giúp nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất |
Mô hình đèn Led nghề lưới vây đã giúp tăng hiệu suất ánh sáng, tiết kiệm đáng kể nhiên liệu chạy máy phát điện (giảm 30–60%).
Mô hình ứng dụng cơ giới hóa trong khâu thu lưới trên tàu lưới chụp, lưới rê tầng đáy đã giúp giảm số lượng lao động trên tàu từ 2–3 người, tăng tuổi thọ ngư cụ, rút ngắn thời gian thu lưới và đảm bảo an toàn cho thuyền viên.
Mô hình hầm bảo quản CPF giúp kéo dài thời gian tàu bám biển, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế hao hụt và giảm tổn thất sau thu hoạch, tiết kiệm 30% lượng đá.
Các thiết bị bảo quản hiện đại giúp giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm và khả năng đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường. Đồng thời, cơ giới hoá góp phần đảm bảo an toàn lao động, giảm rủi ro tai nạn, cải thiện điều kiện làm việc trên tàu cá. Mô hình còn hỗ trợ quản lý nghề cá hiệu quả hơn thông qua các hoạt động đào tạo, thông tin truyền thông giúp nâng cao nhận thức cho ngư dân về truy xuất nguồn gốc, góp phần đáp ứng yêu cầu chống khai thác IUU, thúc đẩy hiện đại hoá đội tàu, phát triển kinh tế biển bền vững và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
(4) Chuyển đổi vật nuôi kém hiệu quả sang đối tượng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Trước những khó khăn về thời tiết, dịch bệnh, mưa lũ các mô hình chuyển đổi từ nuôi tôm nước lợ kém hiệu quả sang nuôi cá chim vây vàng, nuôi cá nâu, nuôi cua biển, nuôi tôm lúa, nuôi rươi lúa đã góp phần giảm thiểu rủi ro mang lại những tác động tích cực rõ rệt, qua đó tăng hiệu quả sử dụng mặt nước, nâng cao năng suất và thu nhập cho người nuôi, ổn định sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Khi kết hợp với các giải pháp kỹ thuật về quản lý môi trường, xử lý chất thải, nuôi an toàn sinh học, các mô hình chuyển đổi không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn giảm tác động tiêu cực đến hệ sinh thái, đảm bảo sinh kế bền vững và thúc đẩy phát triển thủy sản theo hướng hiệu quả, an toàn và thân thiện môi trường. Năm 2025 đã nhân rộng được trên 50% diện tích nuôi cá chim vây vàng, nuôi rươi lúa và nuôi tôm lúa so với quy mô dự án tại các vùng nuôi tôm và trồng lúa kém hiệu quả.
Định hướng hoạt động khuyến ngư năm 2026
Năm 2026, là năm đầu tiên trong kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế của cả nước 2026-2030, trong bối cảnh ngành thủy sản đứng trước yêu cầu cấp bách về phát triển xanh, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập thị trường quốc tế sâu rộng, Trung tâm Khuyến nông quốc gia xác định hoạt động khuyến nông luôn “bám sát thực tiễn sản xuất tại cơ sở”, “đồng hành cùng bà con nông dân”, bám sát Chiến lược phát triển khuyến nông giai đoạn 2026–2030 và Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Bao gồm:
Thứ nhất: Chuyển đổi tư duy và đổi mới cách tiếp cận khuyến nông, đẩy mạnh hoạt động theo hướng kết nối nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ chức khoa học – công nghệ và thị trường.
Thứ hai: Tập trung đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn và có trách nhiệm. Theo đó, khuyến nông sẽ ưu tiên xây dựng và nhân rộng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản ứng dụng công nghệ cao, công nghệ nuôi theo quy trình tuần hoàn, tiết kiệm nước, tối ưu hoá dinh dưỡng, giảm chi phí, giảm phát thải ra môi trường, hỗ trợ áp dụng giải pháp quản lý rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khuyến nông về thủy sản, đáp ứng yêu cầu mới của hai chiến lược. Cán bộ khuyến nông không chỉ giỏi kỹ thuật mà còn có năng lực tư vấn tổ chức sản xuất, chuyển đổi số, liên kết thị trường và phát triển kinh tế hợp tác. Đồng thời, tiếp tục xây dựng mạng lưới khuyến nông cơ sở, khuyến nông cộng đồng, đội ngũ chuyên gia ngành hàng thủy sản đủ mạnh để đồng hành lâu dài cùng người sản xuất.
Thứ tư: Phát huy hiệu quả, thúc đẩy mô hình hợp tác công–tư (PPP) trong hoạt động khuyến nông, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cung cấp dịch vụ và nhân rộng mô hình sản xuất tiên tiến, sản xuất xanh. Đặc biệt đối với hoạt động nuôi biển và nuôi tôm tại các khu vực ven biển trên cả nước.
Thứ năm: Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở, phát huy vai trò của hệ thống khuyến nông “bám sát thực tiễn sản xuất tại cơ sở”, đặc biệt vai trò của đội ngũ cán bộ khuyến nông cấp xã, cán bộ khuyến nông cộng đồng khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Qua đó góp phần xây dựng ngành thủy sản Việt Nam phát triển, có trách nhiệm với môi trường và xã hội, đủ sức cạnh tranh bền vững trong giai đoạn mới.
Phát huy truyền thống và thành tựu hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, Trung tâm Khuyến nông quốc gia cùng với hệ thống khuyến nông Việt Nam sẽ tiếp tục xây dựng hệ thống ngày càng phát triển vững mạnh, tiếp tục là người bạn tin cậy đồng hành cùng bà con nông dân trong ngành thủy sản nói riêng, nông nghiệp và môi trường nói chung, thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình trong giai đoạn mới.
Đặng Xuân Trường
Trung tâm Khuyến nông quốc gia