Từ yêu cầu giảm phát thải đến bài toán trên đồng ruộng

Tại Quảng Ninh, giai đoạn 2021-2025, diện tích gieo trồng lúa hằng năm đạt trên 39.100 ha, năng suất bình quân 51,4 tạ/ha, sản lượng ước trên 201.700 tấn. Tuy nhiên, sản xuất vẫn còn những tập quán có khả năng làm gia tăng phát thải như quản lý nước theo phương thức ngập liên tục, bón phân chưa cân đối, sử dụng phân đạm ở mức cao, thuốc bảo vệ thực vật chưa thật sự dựa trên ngưỡng gây hại và đốt rơm rạ sau thu hoạch.

Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng các biện pháp canh tác khoa học, tiên tiến trong sản xuất lúa góp phần giảm lượng khí phát thải và bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh” được triển khai từ tháng 8/2025 đến tháng 12/2027. Mục tiêu không chỉ xác định hiện trạng sản xuất và phát thải mà quan trọng hơn là xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện giải pháp canh tác phù hợp với điều kiện sinh thái của Quảng Ninh.

Đây cũng là nhiệm vụ có sự phối hợp giữa Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng với các cơ quan chuyên môn, trong đó có Viện Môi trường nông nghiệp và Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ninh.

leftcenterrightdel
 Nhóm nghiên cứu bố trí thí nghiệm

Đo đếm để tìm đúng giải pháp

Điểm đáng chú ý của nhiệm vụ là giảm phát thải không được tiếp cận đơn thuần bằng việc thay đổi một khâu kỹ thuật, mà được xây dựng trên cơ sở điều tra, đo đạc, phân tích và so sánh giữa phương thức canh tác truyền thống với quy trình cải tiến.

Trong vụ Mùa 2025 và vụ Xuân 2026, nhóm thực hiện đã tiến hành đánh giá phát thải tại phường Đông Triều, phường Hiệp Hòa, xã Đường Hoa và xã Đông Ngũ. Kết quả cho thấy phát thải CH₄ tích lũy cả vụ dao động từ 225,6 đến 285,1kg/ha tùy địa điểm; tổng phát thải khí nhà kính quy đổi CO₂ tương đương khoảng 6,35-7,92 tấn CO₂e/ha/vụ. Những con số này tạo cơ sở thực tiễn để xác định các khâu canh tác cần tác động nhằm giảm phát thải.

Từ dữ liệu thực tế, mô hình vụ Xuân 2026 được triển khai tại khu Mỹ Cụ, phường Đông Triều, trên diện tích 1ha với 11 hộ tham gia, sử dụng giống ĐT100 theo phương thức gieo sạ; tại thôn 4, xã Đường Hoa, diện tích 1ha với 13 hộ tham gia, sử dụng giống J02 theo phương thức gieo cấy.

Các giải pháp được áp dụng đồng bộ gồm sử dụng giống xác nhận; cày vùi gốc rạ kết hợp chế phẩm sinh học; giảm 30% lượng phân đạm, tương đương khoảng 55-75kg/ha tùy giống; quản lý nước theo phương thức tưới ướt - khô xen kẽ; đồng thời áp dụng quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp.

 

Giảm phát thải, tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và thay đổi tư duy sản xuất

Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở con số giảm phát thải mà còn có giải quyết nhiều mục tiêu: giảm đầu vào - tiết kiệm tài nguyên - giảm phát thải - duy trì năng suất - tăng hiệu quả kinh tế.

Tại hai điểm mô hình, lượng phát thải CH₄ chỉ còn khoảng 124,51-144,97kg/ha/vụ, ước giảm 44,96% so với canh tác thông thường. Tổng phát thải khí nhà kính quy đổi đạt khoảng 3,54-4,15 tấn CO₂e/ha/vụ, tương ứng giảm 31,07%.

Đáng chú ý, hiệu quả kinh tế cũng được cải thiện.

Với giống ĐT100 tại Đông Triều, năng suất thực thu đạt 6,5 tấn/ha, giá bán 11.000 đồng/kg; sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt 18,43 triệu đồng/ha, cao hơn khoảng 43,3% so với phương thức canh tác truyền thống, tương đương tăng 5,57 triệu đồng/ha.

Tại Đường Hoa, giống J02 đạt năng suất 6,2 tấn/ha, giá bán 12.000 đồng/kg; lợi nhuận đạt 21,504 triệu đồng/ha, cao hơn khoảng 20,4% so với canh tác truyền thống, tương đương tăng 3,644 triệu đồng/ha.

Như vậy hiệu quả kinh tế vẫn tăng và đối với người nông dân, đây là yếu tố quyết định khả năng nhân rộng. Một quy trình chỉ có thể đi vào đời sống khi vừa đáp ứng yêu cầu môi trường, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất.

Bên cạnh đó, lơi ích môi trường nhận được cũng rất cụ thể. Đó là giảm 30% lượng phân đạm góp phần hạn chế thất thoát dinh dưỡng và phát thải N₂O; Quản lý nước theo phương pháp ướt - khô xen kẽ giúp hạn chế điều kiện yếm khí kéo dài, từ đó giảm hình thành CH₄; Xử lý và vùi rơm rạ bằng chế phẩm sinh học thay cho đốt ngoài đồng vừa tận dụng nguồn hữu cơ, vừa hạn chế ô nhiễm không khí.

Một kết quả quan trọng khác của nhiệm vụ là tạo ra sự thay đổi về nhận thức và năng lực kỹ thuật của người sản xuất. Thay vì chỉ chuyển giao một “gói kỹ thuật”, nhiệm vụ được thiết kế theo hướng kết hợp giữa nghiên cứu, trình diễn, đo đạc, tập huấn và chuyển giao. Hệ thống khuyến nông, cán bộ kỹ thuật địa phương và cộng đồng nông dân cùng tham gia xây dựng mô hình, trao đổi kinh nghiệm và hoàn thiện quy trình. Người nông dân không chỉ được hướng dẫn “làm như thế nào”, mà còn có thể nhìn thấy kết quả trên đồng ruộng, hiểu vì sao cần thay đổi phương thức quản lý nước, phân bón, rơm rạ và dịch hại.

Về lâu dài, đó là cơ sở để hình thành lực lượng sản xuất có khả năng tiếp cận các yêu cầu mới của thị trường nông sản xanh, sản xuất phát thải thấp và phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.

 

Không dừng ở một mô hình

Theo kế hoạch, Trung tâm Khuyến nông và Quản lý Bảo vệ, phát triển rừng tiếp tục triển khai mô hình trong vụ Mùa 2026 với quy mô 2ha tại phường Đông Triều và xã Đường Hoa; đồng thời hoàn thiện, trình Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành quy trình kỹ thuật canh tác lúa khoa học, tiên tiến, giảm phát thải, bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh, dự kiến trong tháng 11/2026.

Xa hơn, năm 2027, mô hình dự kiến được nhân rộng với tổng quy mô 40 ha, gồm 4ha từ nguồn kinh phí khoa học và công nghệ, 20 ha từ nguồn sự nghiệp khuyến nông và 16 ha từ các nguồn kinh phí khác.

Định hướng này phù hợp với mục tiêu từng bước hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cao gắn với tiêu chuẩn môi trường, hướng tới xây dựng giá trị và thương hiệu “lúa gạo xanh Quảng Ninh”.

 

Bước chuyển trong tư duy sản xuất nông nghiệp

Từ những ruộng lúa cụ thể ở Đông Triều và Đường Hoa, câu chuyện giảm phát thải đang được chuyển hóa thành những con số có thể đo đếm: giảm gần 45% phát thải CH₄, giảm hơn 31% tổng phát thải khí nhà kính quy đổi CO₂e và đồng thời nâng cao lợi nhuận cho người sản xuất.

Quan trọng hơn, mô hình cho thấy ứng phó với biến đổi khí hậu không nhất thiết bắt đầu từ những công nghệ quá xa vời. Đôi khi, đó là việc thay đổi cách giữ nước trên ruộng, giảm lượng phân đạm, xử lý rơm rạ thay vì đốt, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng lúc và tổ chức sản xuất khoa học hơn.

Khi những thay đổi nhỏ trên từng thửa ruộng được chuẩn hóa thành quy trình, được đo đếm bằng dữ liệu khoa học và được nhân rộng bằng hệ thống khuyến nông, chúng có thể tạo thành một chuyển biến lớn trong phương thức sản xuất.

Đó cũng chính là hướng mà Trung tâm Khuyến nông và Quản lý Bảo vệ, phát triển rừng Quảng Ninh đang hướng tới: đưa khoa học vào đồng ruộng, đưa tư duy giảm phát thải vào sản xuất và từng bước biến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu thành động lực nâng cao giá trị nông nghiệp./.

Nguyễn Bá Lâm

Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng Quảng Ninh