Những năm gần đây, thảo quả được gây trồng và phát triển nhiều đặc biệt là các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta với diện tích khoảng 20.000 ha phục vụ cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Thảo quả được dùng làm thức ăn, gia vị rất ngon và bổ, là một bài thuốc chữa các bệnh về đường ruột và cảm lạnh. Do đó, thảo quả đã trở thành cây trồng chính và là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình ở vùng cao, góp phần quan trọng trong quá trình nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo cho người dân, thay thế xoá bỏ trồng cây thuốc phiện đồng thời góp phần vào bảo vệ và phát triển rừng.
Tính đến năm 2013, tỉnh Lai Châu ước tính có trên 4.000 hộ dân tham gia các hoạt động sản xuất và chế biến thảo quả với diện tích 5.588,06 ha, sản lượng hơn 1.200 tấn quả khô/năm. Giá bán bình quân hàng năm là 145 ngàn đồng/kg khô, đem lại nguồn thu đáng kể giúp đồng bào tăng thu nhập, ổn định cuộc sống. Đối với người dân vùng cao Lai Châu, thảo quả được coi là “cây vàng đỏ” là "kho báu đang cất giữ trong rừng".
Qua điều tra đánh giá cho thấy, nguyên nhân chính ảnh hưởng đến năng suất, thu nhập là do người dân chủ yếu trồng theo phương thức quảng canh phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên mà ít chú ý đến các khâu trong hệ thống biện pháp kỹ thuật thâm canh như chọn giống, cải thiện điều kiện đất đai, chăm sóc,... Khi gây trồng, đa số người dân đã mở tán rừng một cách quá mức, khi chăm sóc đã phát dọn toàn bộ thảm thực vật dưới tán rừng, do đó đã vô tình ảnh hưởng tác động xấu tới cấu trúc rừng, đồng thời loại bỏ rất nhiều loài cây tái sinh dưới tán rừng dẫn đến sự suy thoái đa dạng sinh học ở khu vực gây trồng thảo quả và làm giảm chức năng phòng hộ của rừng nên năng suất, chất lượng thảo quả thấp, không ổn định. Với hơn 70% diện tích thảo quả tại địa bàn trên 12 năm tuổi nếu không có tác động cải tạo, chăm sóc đúng kỹ thuật thì nương thảo quả bị già hóa và giảm năng suất, nương thảo quả xa khu dân cư, việc đi lại, vận chuyển phân bón, chăm sóc, quản lý bảo vệ... gặp rất nhiều khó khăn. Do sợ mất trộm nên thu hái non dẫn đến giảm 20 - 30% năng suất, sản lượng, chất lượng chế biến thấp (quả nhỏ, tối màu, thời gian bảo quản ngắn), giảm 10 - 15% thu nhập. Người nông dân sử dụng củi để sấy thảo quả nên quá trình sấy kéo dài, tốn nhiên liệu củi (để sấy được 1 tấn thảo quả khô cần 5 - 7m3 củi). Chưa có sự liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Diện tích rừng phòng hộ bị ảnh hưởng và khả năng phòng hộ của rừng suy giảm theo thời gian, cụ thể: Giảm đa dạng sinh học, mất thảm thực vật dưới tán rừng (trong quá trình chăm sóc bà con không để lại cây tái sinh), chất lượng rừng ngày càng nghèo đi, nguy cơ mất rừng vì khả năng tái sinh của rừng không còn. Mặt khác, việc gây trồng trong nhân dân không đúng kỹ thuật đã ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc và khả năng tái sinh của rừng tự nhiên nên nhiều địa phương không khuyến khích mở rộng diện tích gây trồng thảo quả. Hơn nữa, thảo quả là loài cây chỉ sinh trưởng và cho năng suất cao khi sống dưới điều kiện hoàn cảnh nhất định bao gồm: Độ cao địa hình từ 1.000 đến 2.500m so với mực nước biển; đất tốt, ẩm, mát, nhiều mùn; độ tàn che của rừng khoảng 0,4 - 0,7... Kết quả nghiên cứu cho thấy không chỉ biện pháp canh tác thảo quả không đúng kỹ thuật có ảnh hưởng xấu tới sự bền vững của rừng mà việc chặt gỗ, củi để sấy thảo quả cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới mất rừng.

Tuyên truyền, phổ biến, tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật cho người dân gây trồng thảo quả
Từ thực tế trên, làm thế nào để phát triển thảo quả gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng việc phát triển thảo quả, chúng tôi đưa ra một số giải pháp:
Thứ nhất: Hỗ trợ thành lập nhóm nông dân sở thích về sản xuất kinh doanh thảo quả; cải thiện giống và vườn ươm giống; cải tiến lò sấy; xây dựng quy ước quản lý sản xuất kinh doanh thảo quả gắn với bảo vệ rừng bền vững cấp thôn bản; tăng cường công tác thông tin giá cả thị trường; khuyến khích các hộ dân liên kết trong chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo hình thức nhóm hộ hoặc hợp tác xã nhằm tăng cường khả năng đàm phán về giá; xúc tiến thành lập hiệp hội thảo quả; tìm kiếm thêm các thị trường tiêu thụ ngoài thị trường Trung Quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ...
Thứ hai: Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn tỉnh.
Thứ ba: Xây dựng các mô hình trồng bổ sung cây che bóng nhằm cải tạo, thay thế những cây bị chết, già cỗi tại những nơi gây trồng và phát triển thảo quả; khuyến khích trồng thử nghiệm thảo quả tại rừng sản xuất, rừng trồng đã khép tán (những nơi đủ điều kiện về đất đai, cao trình).
Thứ tư: Xây dựng tài liệu chuẩn về kỹ thuật canh tác thảo quả theo hướng đầu tư thâm canh đầy đủ, hợp lý, phù hợp với trình độ của người dân trong việc gây trồng thảo quả bao gồm các nội dung đặc điểm sinh học, chọn đất trồng, sản xuất cây giống, phương thức trồng, mật độ trồng, thời vụ trồng, kỹ thuật xử lý thực bì, làm đất đặc biệt là chăm sóc và bón phân. Hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật cải tạo và phục tráng nương thảo quả già cỗi. Cải thiện kỹ thuật thu hoạch, công nghệ sấy và chế biến thảo quả. Tuyên truyền, phổ biến, tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật cho người dân gây trồng thảo quả. Xây dựng quy định quản lý bền vững rừng - thảo quả. Quy hoạch và định hướng phát triển thảo quả bên vững và ổn định. Xây dựng hệ thống thông tin thị trường thảo quả. Xây dựng mô hình nhóm sở thích hay nhóm hợp tác gây trồng thảo quả. Tổ chức đội ngũ, nhóm bảo vệ thảo quả có quy chế rõ ràng. Nâng cao nhận thức về gây trồng thảo quả cho các nhà quản lý, kỹ thuật ở các cấp chính quyền. Xây dựng đào tạo đội ngũ khuyến nông viên, cộng tác viên, hướng dẫn kỹ thuật có đầy đủ trình độ, năng lực, kiến thức và kinh nghiệm để giúp người dân phát triển thảo quả. Tuyên truyền, phổ biến, tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật cho người dân gây trồng thảo quả.
Các hoạt động trên cần được nhân rộng trên phạm vi toàn tỉnh, trên cơ sở không phát triển mở rộng thêm diện tích trên diện tích rừng tự nhiên, từng bước đưa thảo quả ra khỏi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng xung yếu và rất xung yếu... Tiến tới canh tác thảo quả theo hướng thâm canh, bền vững có kiểm soát, đảm bảo thu nhập cho người dân góp phần vào xóa đói giảm nghèo và công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, môi trường sinh thái, tính đa dạng sinh học của rừng./.
Phạm Tiến Trung - TTKN Lai Châu