Quản lý tập trung trên môi trường mạng, rút ngắn tối đa thời gian, phân quyền giải quyết về cấp xã
Theo quy định tại Điều 3, mã số vùng trồng được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất cụ thể dựa trên đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm hộ gia đình. Nghị quyết khẳng định rõ nguyên tắc pháp lý quan trọng: mã số vùng trồng không xác lập và không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân.
Về quy trình xác định vị trí, Nghị quyết nêu rõ vị trí thửa đất đề nghị cấp mã số sẽ được xác định theo mã định danh thửa đất trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nhằm tạo điều kiện linh hoạt cho thực tế sản xuất, trường hợp thửa đất chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh thửa đất, người đề nghị được phép tự kê khai diện tích và vị trí. Thông tin tự kê khai này sẽ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã chỉ đạo xác nhận trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm sau đó.
Toàn bộ cơ sở dữ liệu về mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ, được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hệ thống này cũng kết nối, chia sẻ trực tiếp với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ và các hệ thống cơ sở dữ liệu khác để đảm bảo tính minh bạch, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và xuất khẩu.
Tại Điều 4, Nghị quyết đã xây dựng một quy trình giải quyết thủ tục hành chính vô cùng thông thoáng, chuyển giao toàn bộ thẩm quyền tiếp nhận và xử lý ban đầu về cấp cơ sở (Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi có địa chỉ vùng trồng, cơ sở đóng gói) nhằm sát cánh cùng người nông dân và doanh nghiệp.
- Hồ sơ tối giản: Tổ chức, cá nhân chỉ cần chuẩn bị Đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng (theo Phụ lục I) hoặc Đơn đề nghị cấp mã số cơ sở đóng gói (theo Phụ lục II).
- Tiếp nhận trực tuyến: Hồ sơ được nộp thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia đến thẳng UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.
- Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính được cắt giảm triệt để theo từng nhóm đối tượng cụ thể:
Đối với trường hợp không xuất khẩu đi thị trường có yêu cầu mã số: Thời hạn giải quyết siêu tốc không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm ban hành Thông báo cấp mã số, trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp xuất khẩu đi thị trường có yêu cầu về mã số: Thời hạn giải quyết là không quá 10 ngày làm việc. Trong thời gian này, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức kiểm tra thực tế tại thực địa (đánh giá thông tin kê khai và việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu) và ban hành Thông báo cấp mã số. Đối với trường hợp nước nhập khẩu đồng ý cho phía Việt Nam tự phê duyệt, hệ thống sẽ phê duyệt ngay mã số.
Quy trình liên thông đối với mã số cần nước nhập khẩu phê duyệt: Cơ chế phối hợp được quy định rõ ràng bằng các mốc thời gian nghiêm ngặt. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có 03 ngày làm việc kể từ ngày có Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói để tổng hợp và gửi danh sách về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Sau khi nhận được danh sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục có 03 ngày làm việc để tổng hợp, gửi hồ sơ cho nước nhập khẩu xem xét phê duyệt.
Cấp lại và bổ sung thị trường nhanh chóng: Trường hợp vùng trồng/cơ sở đóng gói muốn đăng ký thêm thị trường xuất khẩu, mã số đã cấp trước đó vẫn được giữ nguyên, quy trình thủ tuc như các bước trên. Đối với thủ tục cấp lại do thay đổi thông tin đại diện hoặc thay đổi địa giới hành chính, thời gian giải quyết chỉ còn 02 ngày làm việc.
Đặc biệt, Nghị quyết cũng dự phòng phương án đảm bảo dịch vụ hành chính không bị gián đoạn khi xảy ra sự cố kỹ thuật. Nếu Cổng dịch vụ công quốc gia gặp sự cố hoặc người dân không thể nộp hồ sơ trực tuyến, UBND cấp xã sẽ tiếp nhận hồ sơ bằng bản giấy trực tiếp hoặc qua bưu điện, sau đó cập nhật ngay lên hệ thống khi vận hành bình thường trở lại.
Thay đổi tư duy quản lý: Chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm"
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP mang tinh thần cải cách thể chế mạnh mẽ, chuyển dịch từ phương thức quản lý tiền kiểm sang gắn liền với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc. Việc tạo điều kiện cho người dân tự khai, tự chịu trách nhiệm kết hợp với thời gian xử lý hồ sơ tính bằng ngày làm việc tại Điều 3 và Điều 4 kỳ vọng sẽ giải phóng nguồn lực cho nông nghiệp, giúp nông sản Việt nhanh chóng nắm bắt thời cơ xuất khẩu.
Xem chi tiết Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP và các Phụ lục kèm theo Nghị quyết:
Phụ lục (tệp .pdf): phuluc-nq-36-msvt-msdg.pdf
Phụ lục (tệp .docx): phuluc-1-nq36-msvt-msdg.docx
BBT (gt)