Phát triển vùng cây ăn quả hàng hóa
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, diện tích cam, bưởi, táo và ổi trên địa bàn thành phố Bắc Ninh ước đạt khoảng 11.650 ha, sản lượng khoảng 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm 2025. Đây là nhóm cây trồng góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và tạo nguồn nông sản hàng hóa phục vụ thị trường.
Trong đó, bưởi có diện tích khoảng 5.200 ha, sản lượng ước 47.000 tấn; cam 2.500 ha, sản lượng 27.600 tấn; táo 2.900 ha, sản lượng 35.090 tấn; ổi 1.050 ha, sản lượng 8.835 tấn. Thời gian thu hoạch của các loại quả nối tiếp nhau: bưởi từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, cam chủ yếu từ tháng 10 đến tháng 12, táo từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau; ổi có thể thu hoạch quanh năm. Đây là lợi thế để tổ chức thu mua, phân phối và xúc tiến thương mại theo từng thời điểm.
Cùng với phát triển sản xuất hàng hóa, địa phương chú trọng nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm. Theo báo cáo, diện tích bưởi sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đạt khoảng 3.660 ha; cam 1.700 ha; táo 1.500 ha và ổi 800 ha. Việc áp dụng quy trình sản xuất an toàn góp phần nâng cao ý thức sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, tuân thủ thời gian cách ly và tạo nền tảng đáp ứng yêu cầu của các hệ thống phân phối hiện đại.
    |
 |
| Vườn bưởi sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ ở Bắc Ninh đang vào vụ thu hoạch |
Tăng cường quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc
Quản lý mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG) là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường cho nông sản. Thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức tập huấn trực tuyến cho cán bộ chuyên môn và cán bộ thực hiện thủ tục hành chính tại các xã, phường.
Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh cũng tổ chức tọa đàm hướng dẫn thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp, hợp tác xã tại các vùng trọng điểm cây ăn quả thuộc huyện Lục Ngạn trước đây. Hoạt động này góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, hỗ trợ các tổ chức sản xuất nắm rõ quy trình và yêu cầu về chất lượng, ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý vật tư nông nghiệp và truy xuất nguồn gốc.
Tính đến ngày 16/10/2026, toàn thành phố duy trì 91 mã số vùng trồng với tổng diện tích 1.764,9 ha, trong đó có 80 mã số phục vụ xuất khẩu, diện tích 1.676,2 ha. Đối với cây ăn quả chủ lực, địa phương đã rà soát, thực hiện thủ tục cấp mới 6 mã số vùng trồng bưởi, diện tích 29,6 ha, sản lượng ước 940 tấn, phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc và đang chờ phía nước nhập khẩu phê duyệt; đồng thời rà soát một mã số vùng trồng ổi diện tích 2,9 ha, sản lượng 18 tấn, phục vụ xuất khẩu sang Cộng hòa Séc.
Để mã số vùng trồng phát huy hiệu quả, việc cấp mã cần đi đôi với quản lý, giám sát và duy trì chất lượng thực tế. Người sản xuất cần tuân thủ quy trình kỹ thuật, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, kiểm soát sinh vật gây hại và bảo đảm thời gian cách ly trước thu hoạch; cơ sở đóng gói phải đáp ứng yêu cầu về vệ sinh, phân loại, bảo quản và truy xuất nguồn gốc.
Kết nối tiêu thụ, từng bước mở rộng thị trường
Các sản phẩm cam, bưởi, táo và ổi của Bắc Ninh hiện được tiêu thụ qua thương lái, đại lý, chợ đầu mối, cửa hàng nông sản, siêu thị, doanh nghiệp thu mua và các nền tảng thương mại điện tử. Bưởi Đào đường đã được xuất khẩu sang Nga; Công ty cổ phần RYB đã thực hiện xuất khẩu ổi sang thị trường Anh, tạo tiền đề để tiếp tục nâng cao chất lượng và tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu nhìn chung còn ở quy mô nhỏ, chưa ổn định; liên kết giữa người trồng, hợp tác xã, cơ sở thu mua, sơ chế, đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu chưa chặt chẽ. Năng lực bảo quản sau thu hoạch và khả năng cung ứng đồng đều về sản lượng, chất lượng vẫn là những vấn đề cần tiếp tục cải thiện.
Thời gian tới, địa phương định hướng tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường; chủ động kết nối doanh nghiệp từ trước vụ thu hoạch để thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, quy cách sản phẩm, sản lượng và phương án thu mua. Đồng thời, khuyến khích xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói đến tiêu thụ; đẩy mạnh quảng bá sản phẩm, phát triển thương hiệu và khai thác các kênh phân phối hiện đại.
Các cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp cần chủ động cập nhật yêu cầu của thị trường nhập khẩu về kiểm dịch thực vật, giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, đóng gói và ghi nhãn; qua đó nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, duy trì uy tín và hướng tới xuất khẩu bền vững.
Phát huy vai trò khuyến nông trong chuỗi giá trị
Thực tiễn cho thấy, nâng cao giá trị cây ăn quả không chỉ dựa vào tiến bộ kỹ thuật mà còn đòi hỏi tổ chức lại sản xuất, tăng cường liên kết và nâng cao năng lực đáp ứng thị trường. Công tác khuyến nông có vai trò trong tuyên truyền, hướng dẫn người dân áp dụng quy trình sản xuất an toàn; sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định; thực hiện ghi chép, truy xuất nguồn gốc; đồng thời hỗ trợ chia sẻ thông tin, kết nối nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp.
Thời gian tới, cần tiếp tục gắn tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật với đặc điểm từng vùng trồng và yêu cầu thị trường; thúc đẩy sản xuất theo tiêu chuẩn phù hợp, quản lý chất lượng và dự báo nguồn cung. Chuyển từ tư duy sản xuất theo khả năng sẵn có sang tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, coi chất lượng, tính đồng đều, truy xuất nguồn gốc và sự ổn định của nguồn cung là yếu tố quan trọng để tiêu thụ hiệu quả.
Với định hướng phát triển sản xuất an toàn, tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý mã số vùng trồng và đẩy mạnh kết nối tiêu thụ, Bắc Ninh đang từng bước tạo nền tảng nâng cao giá trị cây ăn quả chủ lực, cải thiện thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững.
Hương Giang
Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh