Thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến MSVT, MSCSĐG, Gia Lai là một trong những địa phương đang triển khai mạnh việc rà soát, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng. Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai, tính đến ngày 15/9/2026, có 57/61 xã, phường đã ban hành kế hoạch, văn bản triển khai thực hiện; 42 xã, phường thành lập tổ công tác. Toàn tỉnh đã thu thập dữ liệu 7.350,4 ha cà phê của 5.205 hộ và 969,8 ha sầu riêng của 712 hộ phục vụ cấp mã số vùng trồng.

    Những con số này cho thấy khối lượng công việc rất lớn khi việc cấp mã số được triển khai trên diện rộng. Đồng thời, thực tế cũng đặt ra yêu cầu phải chuẩn bị sớm, nhất là đối với những cây trồng có mùa vụ và nhu cầu xuất khẩu tập trung. Nếu chờ đến sát thời điểm thu hoạch mới hoàn thiện hồ sơ, thu thập dữ liệu và chuẩn hóa vùng trồng, áp lực sẽ dồn lên cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

 

    Có mã số mới là bước đầu

    Phát biểu tại Tọa đàm, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cho rằng mã số vùng trồng mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là phải quản lý, quản trị, duy trì mã số và đưa những yêu cầu của mã số trở thành một phần thực chất trong đời sống sản xuất của nông dân.

    Bởi trên thực tế, mã số chỉ có giá trị khi đi cùng một quy trình sản xuất được kiểm soát. Nhật ký không được cập nhật, vật tư đầu vào không được kiểm soát, sản phẩm bị trộn lẫn hoặc không xác định được nguồn gốc lô hàng thì mã số dù được cấp cũng khó phát huy giá trị. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy “hỗ trợ thủ tục” sang hỗ trợ tổ chức sản xuất có kiểm soát. Từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp, hợp tác xã đều cho rằng việc ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý đầu vào, kiểm soát quy trình và truy xuất nguồn gốc phải được thực hiện thường xuyên, thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ vào thời điểm đăng ký mã số.

leftcenterrightdel
Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia phát biểu tại Diễn đàn 

    Công nghệ chỉ hiệu quả khi người dân làm chủ dữ liệu

    Một trong những điểm nổi bật của tọa đàm là câu chuyện số hóa vùng trồng. Từ thực tế của doanh nghiệp Nafoods cho thấy công nghệ có thể giúp quản lý vùng nguyên liệu từ từng thửa đất, nhật ký canh tác đến truy xuất nguồn gốc.

    Nafoods đang quản lý vùng liên kết trên nền tảng phần mềm do doanh nghiệp tự xây dựng. Hệ thống định danh vùng trồng đến từng thửa, quản lý hồ sơ hộ, tọa độ, giống và chu kỳ canh tác; đồng thời hỗ trợ nhật ký canh tác điện tử và truy xuất nguồn gốc. Vùng nguyên liệu liên kết của Nafoods tại Gia Lai hiện có 2.625 hộ trong tổng số 2.834 hộ của toàn hệ thống, với diện tích 2.742 ha và 35 tổ chức tham gia; 86% thửa đất đã được định vị GPS. Trong 9 tháng đầu năm 2026, các tổ chức liên kết cung cấp cho nhà máy 38.000 tấn quả tươi.

    Tuy nhiên, công nghệ không thể tự giải quyết khoảng cách về năng lực của người sử dụng. Theo ông Lê Quốc Thanh, nhiều nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, còn lúng túng khi khai báo trên phần mềm điện tử. Vì vậy, khuyến nông cần thay đổi cách tiếp cận, không nhất thiết chỉ tập huấn trong lớp học mà có thể hướng dẫn ngay tại vườn sầu riêng, nương cà phê, vườn chanh leo; hỗ trợ người dân thao tác trực tiếp trên môi trường điện tử và xử lý những khó khăn phát sinh trong quá trình sản xuất.

leftcenterrightdel
 Các doanh nghiệp cần mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói để đáp ứng yêu cầu thị trường

    Từ mã số đến vùng nguyên liệu

    Nếu doanh nghiệp cần mã số để đáp ứng yêu cầu thị trường, thì câu hỏi tiếp theo là: có mã số rồi, vùng nguyên liệu sẽ được tổ chức như thế nào?

    Đây là vấn đề được đặt ra trong phần chia sẻ của doanh nghiệp và các hợp tác xã. Theo quan điểm của Trung tâm Khuyến nông quốc gia, về lâu dài, doanh nghiệp cần phối hợp với chính quyền địa phương, hợp tác xã và nông dân ngay từ đầu để xây dựng vùng nguyên liệu cho chính mình. Mã số không nên tồn tại như những “đảo nhỏ” tách rời, mà cần được tổ chức thành những vùng nguyên liệu lớn, có tiêu chuẩn và quy trình sản xuất thống nhất, được kiểm soát đồng bộ.

    Thực tế từ các doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia tọa đàm cho thấy hướng đi này đang hình thành.

    Công ty Vĩnh Hiệp chia sẻ kinh nghiệm xây dựng vùng nguyên liệu cà phê quy mô 18.739 ha với 20.925 hộ đạt các chứng nhận 4C và Rainforest Alliance, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu số hóa, truy xuất nguồn gốc để thích ứng với các quy định mới của thị trường.

    Với khu vực chanh leo, Hợp tác xã Vũ Nam, xã Ia Nhin, đang tổ chức vùng sản xuất khoảng 430 ha với 240 hộ, sản lượng khoảng 7.500 tấn/năm, đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm dư lượng của thị trường châu Âu và Hoa Kỳ. Trong khi đó, Hợp tác xã Ia Mơ Nông có khoảng 800 ha với 600 hộ và 6 mã số vùng trồng. Điểm chung được các hợp tác xã nhấn mạnh là ghi chép nhật ký thường xuyên và duy trì kỷ luật nội bộ là điều kiện quan trọng để giữ mã số qua nhiều vụ sản xuất.

    Như vậy, từ góc độ doanh nghiệp và hợp tác xã, mã số chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với vùng nguyên liệu, sản lượng, tiêu chuẩn và thị trường đầu ra. Đây cũng là lý do các đại biểu đề cập đến việc tăng cường liên kết nhiều bên, thay vì để người dân tự xoay xở với một yêu cầu ngày càng phức tạp.

 

    Khuyến nông thay đổi cách đồng hành với nông dân

    Trong chuỗi liên kết đó, vai trò của khuyến nông được đặt ở vị trí kết nối và hỗ trợ nâng cao năng lực. Khuyến nông không thay cơ quan quản lý cấp mã số, cũng không thay doanh nghiệp tổ chức vùng nguyên liệu, nhưng có thể đưa quy định và yêu cầu kỹ thuật đến với nông dân; hướng dẫn thực hành, hỗ trợ hợp tác xã, kết nối các bên và phản ánh những khó khăn từ cơ sở.

leftcenterrightdel
Hệ sinh thái chính quyền địa phương, khuyến nông, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân... sẽ góp phần xây dựng vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu thị trường  

    Theo ông Lê Quốc Thanh, để thực hiện tốt vai trò này, bản thân cán bộ khuyến nông từ Trung ương đến địa phương phải nâng cao năng lực, hiểu công nghệ số, nắm chắc chủ trương, chính sách và quy trình cấp, quản lý mã số. Cùng với đó, người nông dân cũng cần nâng cao năng lực và nhận thức rõ việc tuân thủ các tiêu chuẩn, quy trình không chỉ là trách nhiệm mà còn tạo thêm giá trị cho sản phẩm.

    Tại Tọa đàm, một đề xuất đáng chú ý là nghiên cứu cơ chế để Tổ khuyến nông cộng đồng có thể tham gia cung cấp dịch vụ trong các chuỗi liên kết và có nguồn thu hợp pháp, ổn định. Đây là lực lượng gần dân, am hiểu địa bàn, có thể hỗ trợ trực tiếp những công việc mà người dân còn gặp khó khăn trong quá trình sản xuất và thực hiện các yêu cầu về mã số.

leftcenterrightdel
Thay đổi hướng tập huấn ngay tại vườn sầu riêng, nương cà phê, vườn chanh leo...

    Từ tọa đàm đến những hành động cụ thể

    Điểm nhấn của Tọa đàm là nghi thức ký cam kết tham gia Mô hình liên kết đa bên phát triển vùng nguyên liệu bền vững. Đại diện chính quyền địa phương, Trung tâm Khuyến nông quốc gia, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng thực hiện cam kết trên nguyên tắc phân định: Rõ vai - Rõ việc - Rõ trách nhiệm. Thông điệp xuyên suốt được xác định là: “Thị trường dẫn dắt - Khuyến nông đồng hành - Nông dân là chủ thể - Dữ liệu kết nối chuỗi”.

    Trước đó, trong hai ngày 23–24/9, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã tổ chức 4 lớp tập huấn tại Gia Lai, gồm 2 lớp đào tạo giảng viên nguồn (ToT) và 2 lớp đào tạo nông dân (ToF), với tổng số 180 học viên. Đối tượng được đào tạo bao gồm cán bộ khuyến nông, thành viên Tổ khuyến nông cộng đồng, nông dân, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và các tổ chức, cá nhân sản xuất nông sản.

    Cùng với hoạt động Tọa đàm, Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức đoàn truyền thông với sự tham gia của đông đảo các cơ quan thông tấn báo chí. Đoàn không chỉ đưa tin về sự kiện mà còn ghi nhận thực tế tại các mô hình, doanh nghiệp, vùng nguyên liệu; lắng nghe ý kiến của cán bộ, nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp về những thuận lợi, khó khăn trong triển khai MSVT, MSCSĐG. Hoạt động này góp phần đưa câu chuyện từ Tọa đàm đến gần hơn với thực tiễn sản xuất.

leftcenterrightdel
Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức đoàn truyền thông với sự tham gia của đông đảo các cơ quan thông tấn báo chí 

    Từ Gia Lai, câu chuyện về mã số vùng trồng vì thế được mở rộng thành câu chuyện về cách tổ chức một nền sản xuất minh bạch, có dữ liệu và có thị trường. Mã số là điều kiện cần, nhưng để mã số tạo ra giá trị lâu dài cần một chuỗi liên kết đủ chặt: Nhà nước tạo hành lang và đồng hành; khuyến nông chuyển giao, kết nối và hỗ trợ; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và tổ chức vùng nguyên liệu; hợp tác xã tổ chức sản xuất; còn nông dân là chủ thể trực tiếp thực hiện và duy trì các yêu cầu của chuỗi.

Đỗ Tuấn – Việt Oanh

Trung tâm Khuyến nông quốc gia