Đó cũng là lý do mà Trung tâm Trung tâm Khuyến nông quốc gia lựa chọn chủ đề: “Quản lý, duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói – Giải pháp nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản” cho toạ đàm được tổ chức tại tỉnh Lâm Đồng vào ngày 1/10/2026 với sự phối hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng.
Tọa đàm là nơi trao đổi giữa cơ quan quản lý, địa phương, cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan nhằm cập nhật những yêu cầu mới trong quản lý, duy trì mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG); đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu của thị trường nhập khẩu ngày càng cao và phương thức quản lý đang chuyển mạnh theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng trách nhiệm tự khai báo, tự chịu trách nhiệm và đẩy mạnh kiểm tra sau cấp mã.
Khi “tiền kiểm” nhường chỗ cho “hậu kiểm” và tinh thần tự chịu trách nhiệm
Nghị định số 38/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP đã tạo khuôn khổ mới theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng tính chủ động của địa phương và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân. Sự thay đổi này đánh dấu một chuyển dịch căn bản trong tư duy quản trị nhà nước: chuyển từ “kiểm soát trước khi cấp” (tiền kiểm) sang “cấp nhanh và tăng cường hậu kiểm”. Cơ chế mới giúp giảm tối đa chi phí tuân thủ, giải phóng nguồn lực cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, "cánh cửa mở rộng hơn" cũng đồng nghĩa với việc gia tăng áp lực quản trị và duy trì điều kiện sau cấp mã lên mỗi chủ thể trong chuỗi sản xuất.
Từ bứt phá quy mô đến áp lực duy trì mã số
Lâm Đồng là một trong những địa phương có diện tích cây ăn quả xuất khẩu lớn của cả nước, với các sản phẩm chủ lực như sầu riêng, thanh long, cùng xoài, chanh dây, bưởi, dừa, mít… Đến giữa tháng 9/2026, Lâm Đồng có 1.611 MSVT với tổng diện tích 54.298 ha; trong đó 1.094 MSVT phục vụ xuất khẩu đã được nước nhập khẩu phê duyệt với diện tích 48.016,96 ha. Ngoài ra, có 216 hồ sơ với diện tích khoảng 3.444 ha đã được gửi đề nghị phê duyệt. Về MSCSĐG, toàn tỉnh hiện có 547 mã với tổng diện tích 892.846 m². Riêng đối với một số ngành hàng chủ lực là sầu riêng, Lâm Đồng đã có 441 MSVT xuất khẩu với 16.181 ha và 137 MSCSĐG.
Thế nhưng, sau những con số tăng trưởng ấn tượng là một "nỗi niềm" đầy trăn trở: 173 MSVT (3.627 ha) và 61 CSĐG (137.489 m²) trên địa bàn tỉnh đang rơi vào tình trạng bị tạm ngưng hoặc thu hồi. Riêng cây sầu riêng chiếm tới 99,7% diện tích MSVT bị thu hồi (3.617 ha với 82 mã).
Căn nguyên của thực trạng này xuất phát từ việc nhiều hộ dân coi việc được cấp mã số là đích đến cuối cùng mà buông lỏng việc duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật sau khi đã có mã; Nhật ký canh tác thiếu tính liên tục, không gắn với từng lô thửa thực tế, còn tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và vi phạm thời gian cách ly; Liên kết chuỗi thiếu bền vững, chủ mã dừng liên kết dẫn đến mất mã của cả vùng, ảnh hưởng đến các hộ còn đủ điều kiện;… Ngoài ra những yếu tố như nhân lực kiểm tra, giám sát hạn chế trong khi số lượng mã số tăng nhanh; Vùng trồng lớn, nhiều hộ khó giám sát; Thị trường nhập khẩu thường xuyên thay đổi yêu cầu kỹ thuật, quy định kiểm dịch, gây áp lực cho việc cập nhật, hướng dẫn và tổ chức thực hiện… cũng là những khó khăn khi kiểm tra, quản lý mã số tại địa phương.
Chuyển dịch tư duy quản trị - chìa khoá để giữ mã số
Từ thực tiễn tại Lâm Đồng, tọa đàm đã đúc kết và phát đi thông điệp mạnh mẽ về sự cần thiết phải thay đổi tư duy toàn diện thông qua 4 trụ cột chính:
Thứ nhất, chuyển trọng tâm từ “được cấp mã số” sang “duy trì được mã số”. Mã số vùng trồng không phải là tài sản sở hữu vĩnh viễn hay công cụ để xác lập quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân. Cấp mã số chỉ là điểm khởi đầu; giá trị thực sự nằm ở năng lực duy trì sự tuân thủ quy trình kỹ thuật trong suốt quá trình canh tác, thu hoạch và tiêu thụ.
Thứ hai, xác định cơ sở đóng gói là “trạm kiểm soát chất lượng cuối cùng”. Không thể xem CSĐG chỉ là nơi tập kết hay dán tem hàng hóa. Tinh thần cốt lõi phải là: “Đầu vào không an toàn thì đóng gói tốt đến đâu cũng không thể tạo ra sản phẩm an toàn”. CSĐG phải thiết lập cơ chế đồng kiểm soát với vùng nguyên liệu, kiên quyết từ chối những lô hàng không rõ nguồn gốc hoặc vi phạm tiêu chuẩn.
Thứ ba, gắn mã số với "chuỗi dữ liệu thực", kiên quyết nói không với "số hóa hình thức". Tem QR hay mã số chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu phía sau chính xác, được cập nhật và có thể kiểm chứng. Không nên chạy theo số lượng tem truy xuất mà bỏ qua tính toàn vẹn của dữ liệu. Truy xuất nguồn gốc phải đảm bảo nguyên tắc “một bước trước, một bước sau” và truy xuất ngược đến vùng nguyên liệu, kết nối liền mạch từ nhật ký hộ canh tác, mã lô thu hoạch đến khâu vận chuyển và xuất khẩu.
Thứ tư, nâng cấp vai trò của Hợp tác xã làm "chủ mã tập thể". Việc khuyến khích HTX hoặc Tổ hợp tác đứng tên làm chủ mã số thay cho cá nhân hay hộ lẻ là giải pháp căn cơ nhằm tăng tính ổn định, hạn chế rủi ro mất mã của cả vùng khi có sự biến động của một vài thành viên, diện tích.
    |
 |
| Mã số là khởi đầu của quá trình quản lý, giám sát và duy trì chất lượng vùng sản xuất, cơ sở đóng gói (Trong ảnh: Cácđại biểu tham quan cơ sở đóng gói sầu riêng và tìm hiểu quy trình kiểm soát nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc của Công ty TNHH Thương mại Sản xuất Long Thủy |
Đổi mới hoạt động khuyến nông: Đồng hành vì niềm tin của thị trường
Để đưa các quy định pháp lý vào thực tiễn, hệ thống khuyến nông phải tiếp tục đổi mới cách làm theo hướng: từ phổ biến sang hướng dẫn thực hành; từ hỗ trợ hồ sơ sang đồng hành duy trì; từ tập huấn một lần sang hỗ trợ theo vụ; từ từng hộ riêng lẻ sang tổ chức vùng nguyên liệu; từ dữ liệu rời rạc sang dữ liệu liên kết theo lô; và từ hoạt động đơn ngành sang phối hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước, khuyến nông, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.
Khuyến nông phải làm nhiệm vụ “dịch” quy định phức tạp thành quy trình dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra với các bảng kiểm, biểu mẫu trực quan.
Thay vì chỉ hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ tại một thời điểm, khuyến nông phải đồng hành với chủ thể theo quá trình sản xuất. Hướng dẫn phải được thực hiện ngay từ đầu vụ, kiểm tra trong vụ, rà soát trước thu hoạch và đánh giá sau vụ. Cách tiếp cận này giúp phòng ngừa sai sót, giảm chi phí khắc phục và tạo nền nếp duy trì mã số bền vững.
Khuyến nông cần hướng dẫn người sản xuất và hợp tác xã hình thành thói quen quản lý dữ liệu ngay trong quá trình sản xuất; đồng thời hỗ trợ sử dụng công cụ số phù hợp với năng lực của từng nhóm đối tượng.
Khuyến nông cần hỗ trợ kết nối các chủ thể, thống nhất yêu cầu kỹ thuật, cách ghi chép và kiểm tra nội bộ; qua đó góp phần hình thành vùng nguyên liệu ổn định, minh bạch, có khả năng đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Thủ tục hành chính giản đơn đã tạo cơ hội thuận lợi nhưng cơ hội đó chỉ biến thành giá trị kinh tế bền vững khi người nông dân nâng cao ý thức tự giác, doanh nghiệp tôn trọng cam kết liên kết và các cơ quan quản lý thực hiện giám sát hậu kiểm dựa trên quản trị rủi ro. Đã đến lúc chúng ta nhìn nhận quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói không phải là chi phí tuân thủ bị động, mà chính là khoản đầu tư chiến lược cho uy tín, thương hiệu và tương lai bền vững của nông sản Việt Nam.
BBT