Tham gia mô hình, các hộ nông dân được hỗ trợ 50% kinh phí giống, vôi, phân hữu cơ, thuốc phòng trừ sâu bệnh sinh học; đồng thời được hướng dẫn kỹ thuật thâm canh lúa theo tiêu chuẩn hữu cơ và các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trong suốt vụ sản xuất.

    Mô hình sử dụng giống lúa DV108, với lượng giống gieo sạ được giảm đáng kể, chỉ khoảng 4 kg/sào. Việc gieo sạ thưa giúp cây lúa có không gian sinh trưởng, hạn chế môi trường thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh. Cùng với đó, mô hình sử dụng phân hữu cơ, không sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, chú trọng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp và phát huy vai trò của thiên địch trên đồng ruộng.

    Qua theo dõi, ruộng mô hình có mật độ thiên địch cao hơn ruộng đối chứng. Nhiều loại thiên địch như nhện bắt mồi, chuồn chuồn, bọ xít nước, bọ ba khoan và ong ký sinh xuất hiện trên đồng ruộng, góp phần khống chế sâu hại. Nhờ đó, trong cả vụ sản xuất, ruộng mô hình không phải sử dụng thuốc trừ sâu; một số đối tượng gây hại như bọ trĩ, sâu đục thân và bệnh lem lép hạt chỉ xuất hiện ở mức nhẹ.

leftcenterrightdel
Sản xuất lúa hữu cơ, nâng cao giá trị từ thay đổi cách làm của người nông dân 

    Ông Phạm Minh Chi, hộ tham gia mô hình, chia sẻ: Nhờ được tập huấn kỹ thuật bài bản và có hợp tác xã cam kết bao tiêu sản phẩm, tôi yên tâm sản xuất theo quy trình hữu cơ. Dù yêu cầu nghiêm ngặt hơn so với canh tác truyền thống nhưng hiệu quả mang lại khá rõ. Thời gian tới, gia đình tôi sẽ tiếp tục duy trì sản xuất theo hướng hữu cơ, bền vững để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường

    Kết quả đánh giá cho thấy năng suất thực thu của ruộng mô hình đạt 62 tạ/ha, thấp hơn ruộng đối chứng 4,4 tạ/ha. Dù vậy, nhờ được liên kết tiêu thụ với giá 9.000 đồng/kg, cao hơn 2.200 đồng/kg so với sản phẩm đối chứng, mô hình đạt tổng thu 55,8 triệu đồng/ha. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt 8,18 triệu đồng/ha, cao hơn 1,638 triệu đồng/ha, tương đương khoảng 25% so với ruộng đối chứng.

    Sản xuất lúa hữu cơ đặt ra không ít yêu cầu đối với nông dân nhưng cũng mang lại những lợi ích lâu dài đối với đất canh tác và môi trường. Giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân hữu cơ, hạn chế hóa chất bảo vệ thực vật và quản lý nước hợp lý góp phần cải thiện đất, giảm nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và hạn chế tác động đến sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng.

    Từ kết quả triển khai, mô hình cho thấy hướng đi phù hợp trong nâng cao giá trị sản phẩm lúa thông qua thay đổi phương thức sản xuất gắn với thị trường. Theo Trung tâm Khuyến nông Gia Lai, để mở rộng mô hình, cần tiếp tục hỗ trợ nông dân về kỹ thuật, đồng thời củng cố liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhằm bảo đảm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để từng bước hình thành những vùng sản xuất lúa chất lượng, an toàn, thân thiện với môi trường, trong đó giá trị sản phẩm không chỉ dựa vào năng suất mà ngày càng được quyết định bởi chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.

Thành Nguyên

Trung tâm Khuyến nông Gia Lai