Tọa đàm là dịp để các cơ quan chuyên môn, cán bộ khuyến nông, hợp tác xã và các chủ thể sản xuất cùng trao đổi kinh nghiệm, nhận diện những khó khăn trong thực tiễn và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc nông sản trong thời gian tới.
Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch thông tin ngày càng cao, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc đang trở thành những công cụ quan trọng trong tổ chức sản xuất nông nghiệp. Đây không chỉ là yêu cầu để nông sản tiếp cận các thị trường có tiêu chuẩn cao mà còn góp phần kiểm soát chất lượng, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi sản xuất và củng cố niềm tin của người tiêu dùng.
Tại Tọa đàm, các đại biểu được trao đổi, cung cấp thông tin về thực trạng xây dựng, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và triển khai truy xuất nguồn gốc trên địa bàn tỉnh; các quy định, yêu cầu trong duy trì mã số; vai trò của hệ thống khuyến nông cũng như những giải pháp nhằm đưa hoạt động xây dựng, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc ngày càng đi vào thực chất.
Theo báo cáo tại Toạ đàm, Bắc Ninh có nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, các sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP và nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao. Việc xây dựng vùng sản xuất hàng hóa, thiết lập mã số vùng trồng, ứng dụng mã QR và từng bước số hóa thông tin sản xuất đã góp phần nâng cao nhận thức của người sản xuất, hỗ trợ kiểm soát chất lượng, quảng bá sản phẩm và kết nối với doanh nghiệp, hệ thống phân phối, thị trường tiêu thụ. Hiện nay, Thành phố Bắc Ninh đang quản lý, duy trì hoạt động 74 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu với tổng diện tích 1.642,82 ha, gồm 63 mã số vùng trồng vải thiều, 10 mã số vùng trồng nhãn và 1 mã số vùng trồng vú sữa; đồng thời duy trì 10 mã số vùng trồng nội địa với tổng diện tích 83,68 ha. Bên cạnh đó, 7 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu đang được duy trì hoạt động, với tổng công suất đóng gói dự kiến 800 tấn/ngày.
Việc xây dựng và duy trì mã số vùng trồng đã từng bước làm thay đổi phương thức tổ chức sản xuất. Người dân quan tâm hơn đến sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định; ghi chép nhật ký canh tác, tuân thủ thời gian cách ly, vệ sinh đồng ruộng và kiểm soát sinh vật gây hại. Các hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong quản lý thành viên, điều hành sản xuất và liên kết với các cơ sở đóng gói, đơn vị thu mua. Công tác kiểm tra, giám sát sau cấp mã được chú trọng nhằm bảo đảm các vùng trồng tiếp tục đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu của từng thị trường.
Đối với truy xuất nguồn gốc, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất đã ứng dụng mã QR, mã số mã vạch để cung cấp thông tin về sản phẩm, đơn vị sản xuất, vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chứng nhận và lô hàng. Hệ thống truy xuất nguồn gốc của địa phương từng bước được hình thành, tạo nền tảng để các chủ thể cập nhật và công khai thông tin. Một số mô hình đã ứng dụng công nghệ Blockchain kết hợp GS1 Digital Link trong quản lý hành trình sản phẩm vải thiều, mở đường cho quả vải xuất khẩu sang Nhật Bản và các nước Châu Âu.
Bên cạnh những kết quả đạt được, các ý kiến tại Tọa đàm cũng tập trung làm rõ những khó khăn đang đặt ra trong thực tiễn. Sản xuất ở một số nơi còn nhỏ lẻ, phân tán; việc ghi chép nhật ký sản xuất chưa đầy đủ và thường xuyên; năng lực ứng dụng công nghệ số của một bộ phận người sản xuất còn hạn chế. Dữ liệu giữa vùng trồng, cơ sở đóng gói và đơn vị tiêu thụ chưa thực sự liên thông; một số mã QR mới dừng ở cung cấp thông tin giới thiệu sản phẩm, chưa phản ánh đầy đủ lịch sử sản xuất của từng lô hàng. Một vấn đề được đặc biệt quan tâm là nhận thức về việc duy trì mã số sau khi được cấp. Mã số vùng trồng không phải “giấy chứng nhận” có giá trị vĩnh viễn. Hiệu quả của mã số chỉ được bảo đảm khi các chủ thể tiếp tục duy trì điều kiện kỹ thuật, ghi chép và lưu trữ hồ sơ, kiểm soát vật tư đầu vào, sinh vật gây hại, sản lượng, an toàn thực phẩm và chấp hành hoạt động kiểm tra, giám sát.
Phát biểu tại tọa đàm, ông Nguyễn Hồng Quang - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh nhấn mạnh: Xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói gắn với truy xuất nguồn gốc là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản. Trong thời gian tới, các cơ quan chuyên môn, địa phương cần tiếp tục rà soát, chuẩn hóa dữ liệu; tăng cường kiểm tra, giám sát sau cấp mã; hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy trình sản xuất, ghi chép nhật ký và ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc. Đồng chí cũng đề nghị hệ thống khuyến nông phát huy vai trò cầu nối, đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở; đồng hành cùng nông dân, hợp tác xã trong duy trì mã số vùng trồng và gắn sản xuất với liên kết, tiêu thụ sản phẩm.
Thông qua Tọa đàm, những kiến thức, kinh nghiệm và giải pháp thực tiễn được trao đổi sẽ góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý và duy trì mã số vùng trồng. Quan trọng hơn, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc cần được nhìn nhận không chỉ là yêu cầu về thủ tục hay công cụ dán tem, mà là nền tảng để hình thành phương thức sản xuất dựa trên tiêu chuẩn, trách nhiệm và dữ liệu, qua đó từng bước nâng cao chất lượng, giá trị, sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường và hướng tới nền nông nghiệp Bắc Ninh hiện đại, minh bạch, hiệu quả và bền vững.
Ngọc Ánh
Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh