1. Thiết kế vườn trồng

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:

+ Khu vực đất thấp cần lên liếp, đắp mô; kích thước liếp rộng 3 - 6 m, mương liếp rộng 1 - 2 m, sâu 0,8 - 1,0 m. Mô trồng có đường kính mặt mô 0,4 - 0,6 m, đáy mô 0,8 - 1,0 m, chiều cao mô ≥ 0,5 m.

+ Khu vực đất cao không cần lên liếp nhưng phải làm mương thoát nước (rộng 0,8 - 1,2 m, sâu 0,6 - 0,8 m) và đắp mô (mặt mô 0,6 - 0,8 m, đáy mô 0,8 - 1,0 m, cao ≥ 0,5 m). Vườn cần nằm trong vùng đê bao khép kín ngăn lũ và mặn; vùng nguy cơ xâm nhập mặn cần có mương trữ nước ngọt.

- Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên:

+ Vùng trũng, thấp: đắp mô, thiết kế mương liếp tương tự như vùng ĐBSCL

+ Đất bằng phẳng có độ dốc thấp (< 5°): Thiết kế lô trồng theo kiểu bàn cờ, đào rãnh thoát nước rộng 0,2 - 0,3 m, sâu 0,1 - 0,2 m giữa 2- 3 hàng mít

+ Đất đồi dốc (≥ 5°) bố trí hàng theo đường đồng mức để giảm xói mòn.

- Cần quy hoạch đường giao thông nội đồng để áp dụng cơ giới hóa, vận chuyển vật tư và thu hoạch sản phẩm và hệ thống tưới phù hợp

 

2. Chuẩn bị cây giống

- Giống trồng: Các giống được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam (mít Siêu sớm, Lá bàng, Viên Linh, ruột đỏ, nhóm mít ta,...)

- Tiêu chuẩn cây giống: Cây ghép khỏe, gốc thẳng, không sâu bệnh, chiều cao cây ≥ 40 cm tính từ vị trí ghép, đường kính thân 1,5 -3,0 cm.

 

3. Mật độ và khoảng cách trồng

- Bố trí mật độ và khoảng cách trồng phù hợp với từng loại đất và giống. Đất xấu, nghèo dinh dưỡng trồng dày; đất tốt, giàu dinh dưỡng trồng thưa. Tùy vào giống có thời gian từ trồng đến thu hoạch quả sớm hay muộn để chọn mật độ trồng thích hợp.

- Giống cho quả sớm (Siêu sớm, Lá bàng, Viên Linh, Ruột đỏ): Trồng khoảng cách 4 x 5 m hoặc 5 x 5 m (400 - 500 cây/ha). Có thể trồng dày 3 - 4 x 3 - 4 m (625 - 1.111 cây/ha), sau 5 - 7 năm khai thác thì đốn bỏ cây ở giữa để giữ mật độ 400 - 500 cây/ha.

- Giống cho quả muộn (mít ta): Trồng khoảng cách 6 - 8 x 6 - 8 m (156 -277 cây/ha).

 

4. Đào hố trồng và bón lót

- Chuẩn bị hố:

+ Vườn có đắp mô đào hố trên mô đường kính 40 cm

+ Vườn không đắp mô: vườn có độ dốc < 5° thì đào hố 40 x 40 x 40 cm; vườn có độ dốc > 5° đào hố 40 x 40 x 60 cm.

- Bón lót: Bón trước khi trồng 3 - 4 tuần, gồm 10 - 30 kg phân chuồng hoai mục hoặc 5 - 6 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,5 kg phân lân + 0,5 kg vôi/hố, trộn đều với đất đào hố rồi lấp lại.

 

5. Thời vụ và kỹ thuật trồng

- Thời vụ

+ Vùng khó khăn nước tưới trồng vào mùa mưa (ĐBSCL: tháng 6 - 7 dương lịch; Đông Nam Bộ & Tây Nguyên: tháng 6 - 8 dương lịch)

+ Vùng đủ nước tưới có thể trồng được quanh năm.

- Kỹ thuật trồng:

+ Đặt cây giữa hố, cắt đáy bàu, rạch theo chiều dọc của bầu để kép nylon lên, lấp đất ngang mặt bầu, tưới nước. Xoay mắt ghép về hướng gió chính để tránh tách chồi ghép và cắm cọc cố định cây con.

+ Đối với đất vườn lên mô, đất bằng phẳng hoặc có độ dốc thấp thì trồng mặt bầu ngang hoặc cao hơn mặt đất/mô; Đất có dốc cao (> 5°), trồng mặt bầu thấp hơn mặt đất.

 

6. Chăm sóc

6.1. Chăm sóc thời kỳ kiến thiết cơ bản

- Tưới nước, làm cỏ: Tưới nước thường xuyên, tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô duy trì độ ẩm 70 - 75%. Làm sạch cỏ quanh gốc, cỏ ngoài tán cắt định kỳ 1 - 2 tháng/lần, tránh dùng thuốc hóa học để diệt cỏ. Độ mặn nước tưới phải < 0,5‰.

- Trồng xen, che phủ đất: Có thể trồng xen cây ngắn ngày hoặc cây họ đậu để che phủ, cải tạo đất. Không xen canh cây trồng cạnh trạnh dinh dưỡng, nước, ánh sáng với cây trồng chính.

- Tỉa cành, tạo tán: Mít ra hoa trong thân, tạo tán dạng hình dù (khống chế đọt), tỉa cành vô hiệu trong phạm vi 40% bán kính tán gần thân chính. Vườn trồng dày (> 625 cây/ha) tỉa toàn bộ cành cấp 1 từ gốc đến vị trí cách ngọn khoảng 2 m. Bắt đầu tạo tán hình dù từ năm thứ 2 sau khi trồng. Đối với cây chưa cho quả tỉa cành 2 - 3 lần/năm, cây đã cho quả tỉacành 1 lần/năm ngay sau thu hoạch.

- Bón phân:

+ Phân hữu cơ: Bón 10 – 15 kg phân chuồng hoai mục (1 lần/đầu mùa mưa) hoặc 1 – 1,5 kg phân hữu cơ vi sinh/cây/năm (chia thành nhiều lần). Kết hợp nấm Trichoderma ủ với phân hữu cơ hoặc phân Humic và nấm Trichoderma trộn đều với phân hữu cơ vi sinh để bón, liều lượng khuyến cáo trên bao bì.

+ Phân vô cơ: Có thể sử dụng phân đơn hoặc phân phức hợp. Lượng bón là 300 - 450g N + 250 - 500g P₂O₅ + 250 - 600g K₂O/cây/năm. Dùng phân lân rõ nguồn gốc và thành phần rõ ràng, đảm bảo chất lượng và bón đúng liều lượng khuyến cáo để kiểm soát dư lượng cadimi trong đất.

+ Bón vôi: 1 kg/cây/năm vào đầu mùa mưa nếu pH đất thấp, nếu pH > 6,5 không bón vôi.

+ Cách bón: Bón phân hữu cơ xới nhẹ vùng rễ vào giai đoạn lá bánh tẻ, sau đó tưới nước. Phân vô cơ chia bón 4- 6 lần/năm (2 - 2,5 tháng/lần); cây dưới 6 tháng tuổi có thể hòa tan vào nước để tưới vào vùng rễ, sau đó tưới đẫm nước.

6.2. Thời kỳ kinh doanh

- Tưới nước: Mít có khả năng chịu hạn tốt. Mùa khô tưới 3 - 5 ngày/lần. Giai đoạn cây ra hoa tưới cách ngày; sau đó giảm 2/3 lượng nước vào 1 tuần trước khi nở hoa để tăng thụ phấn/đậu quả. Sau đậu quả chu kỳ tưới bình thường.

- Tỉa cành, tạo tán: Sau thu hoạch tỉa cành mọc vượt, sâu bệnh, suy yếu; Tỉa tán hình dù, tỉa cành vô hiệu 40% bán kính tán gần thân chính. Đối với vườn trồng dày, mật độ cao, tỉa toàn bộ cành cấp 1 từ gốc đến vị trí cách ngọn khoảng 2m (tỉa trụi cành) để tạo thông thoáng cho vườn. Lưu ý vị trí cắt tỉa cách thân chính khoảng 5 cm.

- Bón phân:

+ Phân hữu cơ: 15 - 30 kg phân hữu cơ/cây/năm hoặc 1,5 - 2,0 kg phân hữu cơ vi sinh/cây/năm.

+ Phân vô cơ: Cây 4 - 6 năm tuổi bón 500 - 700g N + 600 - 800g P₂O₅ + 700 - 1.000g K₂O; Cây trên 6 năm tuổi bón 600g N + 800g P₂O₅ + 1.000g K₂O. lượng phân có thể tăng giảm 20-30% tùy theo năng suất thu hoạch vụ trước và tình hình sinh trưởng của cây.

+ Bón vôi: 0,5 - 1,0 kg vôi nông nghiệp/cây/năm.

+ Phân bón lá: Tỷ lệ N:P₂O₅:K₂O trong phân bón lá phù hợp cho giai đoạn sau thu hoạch là 1:1:1; giai đoạn trước ra hoa là 1:2:1; giai đoạn nuôi quả là 1:1:3. Có thể sử dụng thêm các loại phân bón lá chứa nguyên tố trung vi lượng như Ca, Mg, Bo, S,… theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì. Phun vào sáng sớm khi trời không mưa.

+ Cách bón và thời kỳ bón: Chia 5 lần (sau thu hoạch, trước ra hoa, đón hoa vụ chính, 30 ngày sau đậu quả, 60 ngày sau đậu quả)

- Xử lý ra hoa: Giống mít nhanh cho quả có thể xử lý ra hoa ở thời điểm 18 tháng sau khi trồng. Đối với giống chậm cho quả có thể xử lý ra hoa ở thời điểm 36 tháng sau khi trồng.

Các bước xử lý ra hoa cụ thể như sau:

+ Bước 1 (chặn đọt): trước khi xử lý ra hoa nên bón lân và kali theo tỷ lệ 3:1, lượng bón từ 0,2-0,4 kg/cây, rải xung quanh tán, cách gốc 20-30 cm. Tưới nước bình thường liên tục khoảng 7 ngày để phân tan.

+ Bước 2 (xiết nước): Sau khi bón phân từ 7 - 10 ngày, tiến hành ngừng tưới nước (tạo khô hạn). Thời gian xiết nước từ 15-20 ngày đến khi thấy lá trên cây héo lại thì dừng.

+ Bước 3 (cắt tỉa cảnh): sau khi rải phân lân được 10-15 ngày, bắt đầu tỉa cành. Nên tỉa bỏ những cành gố 0,5-0,8m, cành tăm, cành vô hiệu, cành trong tán, giúp cây thông thoáng, tập trung dinh dưỡng nuôi hoa. Nếu tỉa quá sớm, cây xuất hiện chồi vượt, không tập trung ra hoa. Nếu tỉa trễ quá thì xử lý ra hoa sẽ không đạt.

+ Bước 4 (tạo mầm hoa): phun phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao để giúo cây phân mầm hoa (lần 1 phun khi lá cây chuyển sang lá lụa khoảng 30-45% có màu xanh đậm và dày; lần 2 phun sau lần 1 khoảng 7 ngày, phun ở vị trí trong thân và cành chính, những nơi muốn cho ra hoa, không phun hết cây).

+ Bước 5 (ra hoa): khoảng 20 ngày kể từ ngày rải lân thì cây xuất hiện nụ, tiến hành tưới nước trở lại và phun bổ sung một số loại phân bón lá chứa Ca, Bo, K…

-  Tỉa quả:

Sau khi cây ra nụ đến giai đoạn 30 ngày sau đậu quả, nên loại bỏ bớt nụ hoa, chỉ giữ lại những nụ hoa to, phát triển vượt trội.

+ Chọn quả lần 1 (sau khi đậu quả 20 ngày): Loại bỏ các quả dị dạng, méo mó, quả gần mặt đất, quả mọc trên cành vượt, ngoài đầu cành, những cành mang nụhoa mày xanh, nhỏ. Loại những quả có khả năng nhiễm bệnh xơ đen như quả dị dạng, gai quả không đều, có vết thâm, cuống có vết nâu chạy dọc, phễu (đĩa) quả không đều … Chọn quả tròn đều, vỏ sáng đẹp, cuống to, màu vàng sáng; Quả mọc trong thân chính hoặc trên cành cấp 1 (vị trí cách thân khoảng 50 cm, nếu cành cấp 1 đường kính to trên 10 cm thì có thể chọn quả xa thân hơn). Chọn số lượng quả gấp khoảng 2 lần so với số quả dự định giữ lại ở lần chọn thứ 2.

+ Chọn quả lần 2: Khi quả được khoảng 30 ngày tuổi - lần cuối. Lựa chọn từ những quả đã giữ ở lần 1 các quả phát triển tốt nhất, hình dáng tròn đều, vỏ sáng, không bị sâu bệnh. Loại bỏ quả có vòng cuống nhỏ hoặc cuống quá dài (từ 14 - 15 cm).

Sau khi tỉa quả xong, tiến hành bao quả. Số lượng quả giữ lại trên cây phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng của cây (Năm đầu tiên cho quả: Giữ lại từ 1 - 2 quả/cây; Từ năm thứ 2 trở đi: Giữ lại từ 3 - 5 quả/cây và tăng dần theo độ tuổi cũng như sức sinh trưởng của cây).

7. Thu hoạch và bảo quản

- Thu hoạch: Thu hoạch khi quả đủ già (từ khi ra hoa đến khi quả già khoảng 4 - 5 tháng tuổi). Quả già thường có gai nở đều, vỏ màu xanh nhạt hơn, lá đài vàng, héo và rụng, mủ cuống lỏng và trong.

Thu hoạch ngày nắng ráo (9 – 15 giờ hàng ngày), không hái ngày mưa hoặc có sương mù; hái xong đặt quả nằm ngang cho chảy mủ, tránh tiếp xúc trực tiếp với đất

- Bảo quản: Dùng giấy/xốp khổ lớn bọc quanh quả (hở 2 đầu, không bọc kín) tránh va đập khi vận chuyển; bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát.

HM