Tính đến tháng 5/2026 cả nước có 1.525 mã số CSĐG phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn. Riêng thị trường Trung Quốc có 1.332 cơ sở đóng gói được phê duyệt. Tuy nhiên, chỉ tính từ năm 2025 đến nay, đã có 240 mã số cơ sở đóng gói nhận cảnh báo không tuân thủ từ phía Trung Quốc; trong đó 99 mã số CSĐG đã bị tạm dừng hoặc thu hồi. Những con số này cho thấy hệ thống mã số hiện nay không còn là “giấy thông hành hình thức”, mà đã trở thành công cụ kiểm soát chất lượng và uy tín quốc gia đối với nông sản xuất khẩu.
Siết chặt điều kiện cơ sở đóng gói nông sản
Để đáp ứng các điều kiện cấp mã số và quan trọng hơn là duy trì mã số bền vững, 6 nhóm yêu cầu cốt lõi mà mọi CSĐG bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt:
Thứ nhất, kiểm soát nguyên liệu đầu vào
CSĐG tuyệt đối không được coi việc lô hàng có MSVT là điều kiện duy nhất để tiếp nhận nguyên liệu. Mỗi lô hàng nhập xưởng đều phải xác định rõ nguồn gốc, mã số vùng trồng, người cung cấp, ngày thu hoạch, khối lượng và phương tiện vận chuyển và các yêu cầu khác. CSĐG phải xây dựng kế hoạch lấy mẫu kiểm soát nguy cơ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, vi sinh vật; đồng thời thực hiện cơ chế đồng kiểm soát với vùng nguyên liệu liên kết và kiên quyết từ chối những nguồn hàng không đáp ứng tiêu chuẩn. Đây là nguyên tắc sống còn bởi “đầu vào không an toàn thì đóng gói tốt cũng không thể tạo ra sản phẩm an toàn”.
Thứ hai, chuẩn hóa điều kiện nhà xưởng và phân luồng một chiều
Nhà xưởng đóng gói phải thiết lập sơ đồ vận hành theo nguyên tắc một chiều nghiêm ngặt: Tiếp nhận nguyên liệu - Sơ tuyển - Rửa/Làm sạch (nếu có) - Phân loại - Xử lý kỹ thuật - Làm ráo/Làm mát - Đóng gói - Ghi nhãn - Bảo quản - Xuất hàng.
Khu vực nguyên liệu thô và sản phẩm hoàn thiện phải được tách biệt hoàn toàn để ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm chéo. Toàn bộ quy trình vệ sinh nhà xưởng, kiểm soát nguồn nước, xử lý chất thải và phòng chống động vật gây hại phải được thể hiện bằng hồ sơ và kiểm chứng thực tế.
Thứ ba, kiểm soát chặt chẽ công đoạn sơ chế
Các thao tác cắt, rửa, xử lý bề mặt hay đóng gói đều trực tiếp tác động đến chất lượng an toàn thực phẩm. Nước sử dụng trong quá trình sơ chế phải đạt chuẩn; thiết bị, bàn sơ chế, dao, khay chứa… tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm phải được tiệt trùng định kỳ. Công đoạn sơ chế càng nhiều bước thì càng phải tăng năng lực kiểm soát, không nên coi các công đoạn xử lý là điều kiện để đáp ứng hình thức thương mại mà cần đánh giá đầy đủ tác động đến an toàn thực phẩm và chất lượng của sản phẩm.
Thứ tư, chú trọng bảo quản và duy trì "chuỗi lạnh" không đứt gãy
Chất lượng nông sản xuất khẩu thường bị suy giảm do đứt gãy nhiệt độ sau thu hoạch. Cơ sở đóng gói phải quản lý chặt chẽ thông số nhiệt độ, độ ẩm, thông gió trong kho lạnh và trong quá trình vận chuyển logistics. Thiết bị đo nhiệt độ phải được hiệu chuẩn định kỳ, dữ liệu lưu trữ liên tục để cung cấp bằng chứng minh bạch cho khách hàng và cơ quan kiểm dịch.
Thứ năm, truy xuất nguồn gốc thực chất
Với cơ sở đóng gói, truy xuất phải được tổ chức thành hệ thống chứ không chỉ là một mã QR trên bao bì. Một hồ sơ truy xuất thực chất tối thiểu phải kết nối liền mạch được chuỗi dữ liệu sau: Mã lô nguyên liệu - Mã số vùng trồng/hộ cung cấp - Ngày thu hoạch - Khối lượng nhập - Kết quả kiểm tra đầu vào - Mã ca sản xuất/thời điểm đóng gói - Vật tư bao bì - Kho bảo quản - Phương tiện vận chuyển - Khách hàng xuất khẩu. Dữ liệu truy xuất phải phục vụ trực tiếp cho việc điều hành sản xuất và khoanh vùng xử lý sự cố ngay khi phát sinh.
Thứ sáu, quản lý chất lượng “lấy phòng ngừa làm chính”
Cơ sở đóng gói phải chủ động cập nhật các quy định về an toàn thực phẩm và rào cản kỹ thuật (SPS/TBT) của từng thị trường nhập khẩu. Kiểm nghiệm mẫu chỉ là công cụ xác nhận cuối cùng, yếu tố quyết định vẫn là việc kiểm soát tuân thủ toàn bộ quá trình vận hành.
    |
 |
| CSĐG phải thể hiện đúng vai trò là “trạm kiểm soát chất lượng cuối cùng” trước khi nông sản bước vào thị trường xuất khẩu chính ngạch |
Từ “đủ điều kiện cấp mã” sang “duy trì năng lực kiểm soát” và vai trò đồng hành của Khuyến nông
Thực tiễn quản lý cho thấy cấp mã số mới chỉ là bước đầu. Thách thức lớn hơn là duy trì mã số qua nhiều vụ sản xuất, nhiều nhóm nguyên liệu và nhiều thị trường, đòi hỏi các địa phương phải tổ chức thực hiện quản lý mã số hiệu quả.
Theo đó, CSĐG phải chủ động chứng minh năng lực tuân thủ. Mỗi CSĐG có thể xây dựng “Bộ câu hỏi kiểm soát" và thực hiện tự đánh giá định kỳ. Các câu hỏi có nội dung về truy soát nguồn gốc nguyên liệu, hiệu lực MSVT, sơ đồ nhà xưởng, nhật ký vệ sinh và kiểm soát côn trùng, chất lượng nguồn nước, kiểm định thiết bị đo, hồ sơ lô hàng, khả năng truy xuất ngược, quy trình xử lý lô hàng lỗi, đánh giá cải tiến sau mỗi mùa vụ…
Đối với cơ quan quản lý, cần chuyển mạnh sang quản lý theo nguy cơ và theo chuỗi. Cơ sở có lịch sử tuân thủ tốt, hồ sơ đầy đủ, kiểm soát nội bộ tốt có thể áp dụng phương thức giám sát phù hợp. Cơ sở có dấu hiệu rủi ro, vi phạm hoặc có liên quan đến cảnh báo thị trường cần tăng cường kiểm tra, lấy mẫu và giám sát. Cách làm này vừa sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước, vừa tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống kiểm soát nội bộ.
Song song đó, hệ thống khuyến nông cũng cần quan tâm hơn đến giai đoạn sau thu hoạch, không chỉ dừng lại ở kỹ thuật canh tác trên đồng ruộng, lực lượng khuyến nông và các Tổ khuyến nông cộng đồng sẽ bám sát cơ sở để hướng dẫn CSĐG và Hợp tác xã về kỹ thuật sơ chế, làm mát, quản lý kho lạnh, ghi chép nhật ký số và đóng gói.
Thị trường quốc tế ngày nay không đơn thuần mua một sản phẩm nông sản; thị trường mua mức độ tin cậy của cả chuỗi sản xuất. Mã số cơ sở đóng gói chính là "điểm kiểm soát chất lượng" then chốt để khẳng định mức độ tin cậy đó. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP mang lại cơ hội lớn, nhưng chỉ có năng lực kiểm soát thực chất, sự trung thực của dữ liệu truy xuất và tinh thần tự chịu trách nhiệm của chủ cơ sở đóng gói mới là chìa khóa duy trì mã số bền vững, bảo vệ thương hiệu nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.
BBT