Phần lớn các tổ chức dự báo độc lập đều thống nhất rằng niên vụ sắp tới của Brazil sẽ tăng so với niên vụ trước, với ước tính dao động từ 66,2 đến 74,4 triệu bao, mức trung vị khoảng 71 triệu bao. Điều kiện thời tiết tại Brazil tháng 2/2026 ghi nhận lượng mưa cao hơn trung bình và dự kiến tiếp tục thuận lợi đến đầu tháng 3.

Tại Colombia, quốc gia sản xuất Arabica chế biến ướt lớn nhất thế giới với hai vụ thu hoạch mỗi năm, sản lượng niên vụ tháng 10/2025 đến tháng 9/2026 được dự báo đạt khoảng 13,5 triệu bao, tương đương mức trung bình mười năm, dù thấp hơn niên vụ trước. Xuất khẩu cà phê Colombia ước tính đạt 11,5 triệu bao, song sản lượng và xuất khẩu lũy kế bốn tháng đầu niên vụ đều giảm so với cùng kỳ niên vụ trước.

Khu vực Trung Mỹ duy trì nhịp độ thương mại ổn định, trong đó Honduras dẫn đầu với dự kiến 5 triệu bao xuất khẩu. Colombia và Mexico chiếm khoảng 72,5% nguồn cung Arabica chế biến ướt toàn cầu.

Tại Peru, sản lượng niên vụ hiện tại ước tăng 8,33%, đạt 3,90 triệu bao, phản ánh xu hướng phục hồi tương đối tích cực của khu vực Nam Mỹ, trong bối cảnh phân khúc Arabica và Robusta tiếp tục có sự phân hóa về cung – cầu trên thị trường quốc tế.

Uganda – quốc gia sản xuất Robusta lớn nhất khu vực Châu Phi và đứng thứ tư về xuất khẩu Robusta sang các thị trường tiêu thụ không sản xuất – được dự báo đạt sản lượng khoảng 8 triệu bao trong niên vụ tháng 10/2025 đến tháng 9/2026, gồm 7 triệu bao Robusta và 1 triệu bao Arabica. Niên vụ 2026/2027 có thể tăng nhẹ lên 8,40 triệu bao nhờ mở rộng sản lượng Robusta. Xuất khẩu ba tháng đầu niên vụ hiện tại đạt 1.828.630 bao, tăng 39,68% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, Ethiopia – quốc gia sản xuất Arabica hàng đầu châu Phi – dự kiến đạt 8,50 triệu bao trong niên vụ 2025/2026, giảm 4,5% so với năm trước; xuất khẩu ước khoảng 7,50 triệu bao, song có thể chịu áp lực do tiêu thụ nội địa cao và tồn kho chuyển vụ hạn chế.

Sản xuất cà phê Kenya được dự báo đạt 850.000 bao, tăng 13,33%, với xuất khẩu khoảng 800.000 bao.

Tanzania ước tính đạt 1,45 triệu bao, tăng 7,4%, trong đó phần lớn dành cho xuất khẩu sang Nhật Bản và Liên minh châu Âu.

BBT

(theo Ispae)