Sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua có bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu quan trọng, tốc độ phát triển bình quân ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2016-2020 đạt 2,88%; đến năm 2020, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 29,49% trong tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh; đã hình thành một số mô hình liên kết sản xuất gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị; nhiều sản phẩm nông sản đã và đang được sản xuất theo hướng an toàn, VietGAP, hữu cơ giúp nâng cao giá trị gia tăng, tạo được thương hiệu trên thị trường như thanh long, gạo, nhãn,...
Mặc dù có những chuyển biến tích cực nhưng sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bình Thuận vẫn còn có một số hạn chế như: chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp còn thấp dẫn tới thị trường, giá cả không ổn định; sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún; liên kết, hợp tác sản xuất theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp chưa hiệu quả, thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn khó khăn;…
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang là xu thế phát triển tất yếu của ngành nông nghiệp và được các cấp chính quyền hết sức quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển. Nhiều năm qua, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa trồng trọt tập trung, phát triển các sản phẩm trồng trọt chủ lực có lợi thế của tỉnh, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp. Dù phương thức sản xuất theo tập quán là phổ biến, nhưng trong đó đã có những biện pháp sản xuất có tính hữu cơ. Tuy nhiên, việc canh tác hữu cơ chưa được hệ thống hoàn chỉnh theo quy trình, quy chuẩn, các bước sản xuất hữu cơ mới chỉ được thực hiện từng phần mang tính chất thói quen, bản địa.
Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 10/9/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIV) về phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững có giá trị tăng cao đã đề ra quan điểm chỉ đạo “Phát triển ngành nông nghiệp hiện đại, bền vững, có giá trị gia tăng cao thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu cơ gắn với liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị và bảo vệ môi trường sinh thái là nhiệm vụ, giải pháp then chốt để phát triển ngành nông nghiệp trở thành 01 trong 03 trụ cột của nền kinh tế của tỉnh”. Để thực hiện chủ trương, mục tiêu nêu trên, ngày 26/4/2023 vừa qua, UBND Bình Thuận đã ban hành Quyết định số 802/QĐ-UBND về việc phê duyệt “Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 – 2030” của Chủ tịch UBND Bình Thuận là hết sức quan trọng và cần thiết.
Mục tiêu của Đề án là tạo cơ sở phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, phát triển nền nông nghiệp hữu cơ có giá trị gia tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường sinh thái, góp phần ổn định đời sống, thu nhập cho một bộ phận lao động, dân cư trên địa bàn tỉnh; là cơ sở để tổ chức triển khai tái cơ cấu ngành nông nghiệp từ đó góp phần vào chiến lược phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương.
Lộ trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Phấn đấu đến năm 2025, diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 1,5 - 2,0% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp; tỉ lệ sản phẩm chăn nuôi đạt khoảng 1,0 - 1,3% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong tỉnh; diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 1,0 - 1,2% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh; tỉ lệ sử dụng phân bón hữu cơ đạt trên 15% tổng phân bón được sử dụng trên địa bàn tỉnh; đối với dựơc liệu và lâm sản ngoài gỗ từ tự nhiên, tỉ lệ sản lượng hữu cơ trên tổng sản lượng đạt khoảng 90 - 98%, đối với hình thức thâm canh (sử dụng môi trường rừng để sản xuất) tỷ lệ sản lượng hữu cơ trên tổng sản lượng đạt khoảng 75-80%; nâng cao hiệu quả của sản xuát hữu cơ, giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ trên một đơn vị diện tích cao gấp 1,3-1,5 lần so với sản xuất phi hữu cơ.
Đến năm 2030, diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5 – 3,0% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp; tỉ lệ sản phẩm chăn nuôi đạt khoảng 2,0-3,0% tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong tỉnh; diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 2,5-3,0% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh; nâng cao hiệu quả của sản xuất hữu cơ, giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ trên một đơn vị diện tích cao gấp 1,5-1,8 lần so với sản xuất phi hữu cơ.
Định hướng phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tập trung
Sản phẩm ưu tiên để phát triển sản xuất là các sản phẩm nằm trong danh mục nông nghiệp chủ lực cấp tỉnh. Đối tượng cây trồng tập trung sản xuất hữu cơ là cây lúa, rau đậu, cây thanh long, cây xoài, cây sầu riêng, cây mít, cây có múi, cây nhãn, cây điều, dược liệu hữu cơ (thực hiện theo đề án phát triển cây dược trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, phấn đấu trở thành sản phẩm chủ lực của tỉnh, có các sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP); chăn nuôi tập trung phát triển bò thịt, heo, dê và gia cầm; vùng thủy sản nuôi trồng các loài thủy sản bản địa, đặc sản; Lâm sản hữu cơ phát triển cây dược liệu dưới tán rừng với các loài cây thuốc quý, có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thỗ nhưỡng, khí hậu. Khai thác sản phẩm tự nhiên có tiềm năng từ rừng như măng, khoai mài, mộc nhĩ rau rừng (lá bép),…
Nội dung thực hiện tập trung vào công tác đào tạo, tập huấn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ cho cán bộ quản lý các cấp từ tỉnh đến địa phương; thực hiện mô hình trình diễn trong vùng sản xuất định hướng phát triển cây trồng, vật nuôi theo hình thức hữu cơ; thông tin tuyên truyền, tham quan học tập kinh nghiệm...
Việc xây dựng, thực hiện các mô hình sản xuất nông nghiệp đạt chứng nhận hữu cơ, chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ có kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt các tiêu chuẩn theo quy định. Sản phẩm sản xuất ra được cấp giấy chứng nhận theo quy định quốc gia (hoặc tương đương) về nông nghiệp hữu cơ trên các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực của tỉnh. Những diện tích chưa đạt tiêu chuẩn thực hiện sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì tiến hành thực hiện cải tạo điều kiện sản xuất, quy trình sản xuất và các yêu cầu khác phù hợp với các tiêu chuẩn theo quy định.
Cùng với xây dựng các chính sách, Bình Thuận xác định tập trung các giải pháp về tiêu thụ sản phẩm, kết nối thị trường. Trong đó tính toán xây dựng các kênh phân phối, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ theo hướng sản phẩm chất lượng cao; đưa vào các kênh phân phối tại hệ thống các siêu thị toàn quốc; các cửa hàng an toàn thực phẩm; các nhà hàng phục vụ khách du lịch và từng bước định hướng xuất khẩu.
Việc xây dựng lộ trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ đảm bảo phù hợp điều kiện sản xuất của từng địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, kế hoạch phát triển của ngành nông nghiệp và lĩnh vực có liên quan, thu hút được các thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh và phụ trợ, dịch vụ cho nông nghiệp hữu cơ, đáp ứng nhu cầu của thị trường, phù hợp với “Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 - 2030 của Chính phủ”. Từ đó phát huy và khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương phù hợp với nhu cầu của thị trường, đảm bảo an ninh lương thực, đời sống của người dân; thu hút được các thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhỏ, HTX, trang trại, hộ gia đình, nhóm hộ sản xuất sản phẩm hữu cơ tham gia sản xuất, kinh doanh và phụ trợ, dịch vụ cho nông nghiệp hữu cơ./.
Hồ Công Bình
Trung tâm Khuyến nông Bình Thuận