Chẳng hạn như hệ thống cảm biến môi trường (IoT) giúp giám sát liên tục các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan và cảnh báo khi có biến động. Máy cho ăn tự động giúp cung cấp thức ăn theo khẩu phần, giảm hao hụt. Hay như các hệ thống sục khí, xử lý nước tự động, bơm và cấp – thoát nước thông minh giúp duy trì môi trường ổn định. Camera giám sát kết hợp AI hỗ trợ theo dõi hoạt động của tôm, cá và phát hiện sớm dấu hiệu bất thường. Phần mềm quản lý nuôi trồng cho phép lưu trữ, phân tích dữ liệu sản xuất một cách khoa học, trong khi truy xuất nguồn gốc điện tử bằng mã QR góp phần minh bạch thông tin sản phẩm.

    Tại tỉnh Long An trước sáp nhập, mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn ứng dụng công nghệ 4.0 do Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Tây Ninh thực hiện đã cho thấy hiệu quả tích cực sau thời gian thực hiện. Nhờ hệ thống giám sát tự động và thiết bị điều khiển thông minh, các chỉ tiêu môi trường ao nuôi được theo dõi liên tục, giúp người nuôi chủ động xử lý, giảm rủi ro và nâng cao năng suất.

    Hộ ông Nguyễn Thanh Sử (xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An trước sáp nhập, nay là tỉnh Tây Ninh), với 340.000 con giống thả nuôi, việc ứng dụng hệ thống giám sát tự động giúp kiểm soát chặt chẽ quá trình nuôi, hạn chế dịch bệnh. Sau 3,5 tháng, thu hoạch đạt 8 tấn tôm thương phẩm, kích cỡ 38 con/kg, năng suất khoảng 1,8 tấn/1.000 m²/vụ; lợi nhuận đạt khoảng 490 triệu đồng.

    Tương tự, hộ ông Lâm Văn Dũng (xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trước sáp nhập) với 190.000 con giống thả nuôi, sau 3 tháng thu hoạch đạt 3 tấn, kích cỡ 60 con/kg, năng suất khoảng 1,5 tấn/1.000 m²/vụ; lợi nhuận đạt khoảng 100 triệu đồng nhờ áp dụng công nghệ theo dõi chất lượng nước và quản lý ao nuôi.

    Những kết quả này cho thấy, công nghệ không chỉ giúp kiểm soát môi trường nuôi hiệu quả mà còn nâng cao năng suất, tăng lợi nhuận, mở ra hướng phát triển bền vững cho nghề nuôi tôm.

leftcenterrightdel
Ứng dụng công nghệ hiện đại vào nuôi trồng thủy sản cho nhiều lợi ích thiết thực 

    Tuy vậy, việc ứng dụng công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản vẫn còn một số khó khăn như chi phí đầu tư ban đầu cao, yêu cầu người nuôi phải có kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ, cùng với nguy cơ rủi ro về bảo mật dữ liệu.

    Trong thời gian tới, để thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, cần tăng cường tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng các mô hình điểm phù hợp với điều kiện địa phương. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ để người nuôi dễ dàng tiếp cận và áp dụng.

    Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và tự động hóa được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, hướng tới phát triển ngành thủy sản hiện đại, bền vững./.

Phương Thảo

Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Tây Ninh