* Cơ giới hoá khâu làm đất:

 

Theo tài liệu của Tổng cục Thống kê (2009) và của các tỉnh ĐBSH (2010), CGH khâu làm đất ở ÐBSH đạt khoảng 80%. Trong số 6 tỉnh được chọn để nghiên cứu, khảo sát khả năng ứng dụng máy làm đất trong sản xuất lúa thì Thái Bình, Hà Nam, Nam Định có tỉ lệ diện tích được làm bằng máy cao nhất (9194%), còn các tỉnh khác xấp xỉ 80%.

 

* Cơ giới hoá khâu gieo-cấy

 

- Khâu gieo: Gieo sạ là tập quán lâu đời trong sản xuất lúa của bà con nông dân, phù hợp với điều kiện tự nhiên và chi phí lao động. Ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên có tập quán gieo lúa thẳng. Trong ba năm gần đây đã thí điểm mở rộng cho các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình trên cơ sở dùng máy gieo hàng kéo tay và máy gieo liên hợp với máy kéo. Các cơ quan nghiên cứu - ứng dụng và cơ sở chế tạo đã chuyển giao và sản xuất hơn 100.000 công cụ gieo lúa theo hàng và khoảng 10% tổng diện tích lúa đó ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (TBKT) này.

 

- Khâu cấy: Công nghệ trồng lúa ở ĐBSH phổ biến là cấy, chiếm trên 90%. Cấy gắn liền khâu làm mạ cần đảm bảo rễ không bị tổn thương khi cấy. Gần đây, việc thử nghiệm máy cấy đơn giản cỡ nhỏ kiểu cấy 6 hàng và 8 hàng với khoảng cách cấy từ 20-25 cm hoặc máy cấy hiện đại tốc độ cao với khoảng cách cấy 30 cm đang được nghiên cứu áp dụng cùng công nghệ sản xuất mạ thảm (mạ khay) ở một số nơi tại ĐBSH như Hà Nội, Bắc Ninh...

 

* Cơ giới hoá khâu thu hoạch

 

- Khâu cắt, gặt: Ở ĐBSH do điều kiện ruộng đất hẹp, nên nông dân thường dùng máy gặt rải hàng, gặt bằng liềm vẫn phổ biến. Sử dụng máy gặt lúa rải hàng tập trung ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định.

 

Về công nghệ thu hoạch lúa một giai đoạn (dùng máy gặt đập liên hợp): cho đến nay cả nước đã trang bị gần 15.000 chiếc máy gặt đập liên hợp với năng suất cắt gặt khá cao, chất lượng gặt tốt, chủ yếu sử dụng cho ĐBSCL, các tỉnh ĐBSH đang ở mức độ khiêm tốn chưa được phổ biến rộng vì việc “dồn điền dồn thửa” tiến hành còn chậm. Việc tạo ra mẫu máy thu hoạch lúa một giai đoạn cho đồng ruộng ở ĐBSH cần đảm bảo yêu cầu công nghệ cắt-gặt-di động tốt trên ruộng có nền yếu. Vấn đề còn lại là ngành công nghiệp chế tạo máy cần phải đảm bảo chất lượng, tuổi thọ máy và giá thành phù hợp với điều kiện của người nông dân hiện nay.

 

- Khâu tuốt, đập lúa: ĐBSH đã giải quyết cơ bản khâu đập lúa bằng máy. Vì là khâu nặng nhọc, yêu cầu thời vụ khẩn trương cho nên tỉ lệ CGH khâu này tăng rất nhanh. Đến nay cả nước đã đầu tư trang bị 587.364 máy đập lúa có động cơ, đạt trên 90%. Tính đến năm 2010, các tỉnh thuộc ĐBSH đã trang bị 152.563 chiếc máy đập lúa (Tổng Cục thống kê, 2009, Kết quả tính toán, phân tích của GS.TSKH. Phạm Văn Lang), chủ yếu là các loại máy đập dọc trục, răng rộng bản, năng suất đập từ 0,2  2 tấn/giờ. Chi phí năng lượng riêng của các loại máy này chỉ khoảng 35 kWh/tấn sản phẩm, thấp hơn các loại máy đập cổ điển từ 45 lần. Kết cấu máy gọn. Phần lớn các loại máy đập được trang bị ở ĐBSH là do công ty cơ khí Nhật Việt (Nam Định) cung cấp. Ngoài ra, tại một số địa phương, nông dân tự lắp thêm động cơ diezen (lắp vào guồng tuốt lúa đạp chân đã được trang bị trước đây để giảm nhẹ cường độ lao động).

 

* Cơ giới hoá khâu làm khô:

 

Các loại máy sấy để làm khô lúa ở vùng ĐBSH còn ít được nông dân quan tâm đầu tư. Nông dân chủ yếu áp dụng phương pháp thủ công, phơi tự nhiên. Lúa được trải ra sân bề dày từ 56 cm, định kỳ đảo trộn nhằm tăng tốc độ bay ẩm. Thời gian phơi lúa trong ngày tuỳ thuộc vào giờ nắng. Phương pháp làm khô này rất bị động vào mùa mưa (nhất là thu hoạch lúa Hè Thu).

 

Do chưa sản xuất lúa quy mô hàng hóa, tập trung như vùng ĐBSCL, nếu đầu tư máy sấy, mỗi năm hộ nông dân ở ĐBSH chỉ sử dụng máy từ 1520 ngày, do đó nông dân chưa muốn đầu tư. Trong tương lai gần, với việc “dồn điền đổi thửa”, chuyển dịch cơ cấu lao động, sản xuất lúa trở thành hàng hóa, tập trung thì nhu cầu đầu tư các thiết bị sấy phù hợp sẽ là tất yếu, để ngoài việc giảm tổn thất sau thu hoạch, giảm công lao động, nâng cao chất lượng nông sản còn tạo điều kiện có thể tận dụng chất thải sinh khối (trấu, mùn cưa…) làm chất đốt với công nghệ phù hợp nhằm tiết kiệm “đầu vào” cho quá trình làm khô, giảm thiểu ô nhiễm môi trường...

 

ĐBSH là một trong những vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước, trong đó lúa là cây trồng chính. Việc thúc đẩy CGH trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất lúa gạo nói riêng cho vùng đang là bức thiết đối với xu thế hiện nay.

 

Tuy nhiên để thúc đẩy thực hiện đồng bộ CGH trong lúa gạo vùng ĐBSH, các nơi trồng lúa, ngô tập trung, chính quyền địa phương cần hỗ trợ xây dựng quy hoạch các cánh đồng, lô thửa có kích thước tối thiểu để máy móc hoạt động thuận lợi, hỗ trợ quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng (mương tưới tiêu, đường nội đồng) đảm bảo cho máy đi lại dễ dàng.

 

Bên cạnh đó, Nhà nước sửa đổi luật đất đai theo hướng giao đất cho hộ gia đình sử dụng lâu dài, mở rộng hạn mức sử dụng đất, thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai, công nhận quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất, kinh doanh nhằm khắc phục được vướng mắc "ngoài hạn điền” khi nông dân dùng thế chấp quyền sử dụng đất để mua máy; tạo điều kiện cho phát triển kinh tế trang trại, hộ nông dân sản xuất lớn, thuận tiện cho việc ứng dụng CGH hiệu quả.

 

Ngoài ra, Nhà nước cần coi lĩnh vực chế tạo máy nông nghiệp là ngành công nghiệp đặc biệt quan trọng đối với giai đoạn hiện nay để chú trọng hơn trong việc xây dựng, duy trì và phát triển các cơ sở chế tạo máy nông nghiệp có quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại đủ năng lực chế tạo những sản phẩm phức tạp như máy kéo 2 bánh, 4 bánh, máy cấy, máy gặt đập liên hợp v.v.. thể hiện trong các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù.

 

BBT
Theo báo cáo tham luận Diễn đàn KN@NN "Cơ giới hóa trong sản xuất lúa gạo".