Bà Hạ Thúy Hạnh - PGĐ Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, ông Nguyễn Hữu Trượng - PGĐ Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh chủ trì hội thảo.
Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tại hội thảo, hiện nay, chăn nuôi nước ta tương đối phát triển với khoảng 26,5 triệu con lợn, 8 triệu con trâu, bò và 308,5 triệu con gia cầm (Theo Tổng cục Thống kê, 2012). Tuy nhiên, sự phát triển chăn nuôi đã gia tăng ô nhiễm môi trường kèm theo những bất cập trong quản lý đang làm cho sự ô nhiễm do chăn nuôi gây ra tới mức báo động. Theo tính toán dựa trên cơ sở khoa học sinh lý vật nuôi và số liệu thống kê có thể thấy lượng phát thải chất thải rắn của chăn nuôi cũng được tăng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng quy mô, ước lượng với mức thải trung bình 1,5 - 2 kg phân lợn/con/ngày; 15kg phân trâu, bò/con/ngày và 0,2 kg phân gia cầm/con/ngày thì hàng năm với tổng đàn vật nuôi trong cả nước thì riêng lượng phân thải ra trung bình đã hơn 85 triệu tấn mỗi năm. Lượng phân này phân hủy tự nhiên nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm nặng nề đất, nước và không khí do phát thải nhiều khí độc như CO2, CH4,... gây hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường.
Khí sinh học (KSH) đã được biết đến ở nước ta từ những năm 1960, trải qua trên 50 năm phát triển ở Việt Nam, KSH ngày càng được phát triển rộng rãi từ quy mô sản xuất nhỏ, vài mét khối đã mở rộng sang quy mô sản xuất lớn vài nghìn đến vài chục nghìn mét khối, từ lĩnh vực chăn nuôi sang lĩnh vực công nghiệp, khu vực nông thôn sang khu vực thành thị. Riêng trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc quy mô nông hộ, KSH đã phát triển đến hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Đối với loại hình chăn nuôi nông hộ, hiện có trên 500 công trình hầm ủ biogas với thể tích từ vài khối đến vài chục khối do người chăn nuôi trực tiếp đầu tư hoặc được hỗ trợ thông qua các chương trình dự án, các hầm ủ được thiết kế thi công với nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau như hầm bê tông, túi PE, vật liệu mới HDPE. Việc ứng dụng công nghệ hầm ủ biogas sẽ giải quyết vấn đề ô nhiễm môi đất, nước, không khí giảm thiểu các chất khí gây hiệu ứng nhà kính phát sinh từ quá trình sản xuất, chăn nuôi hạn chế dịch bệnh bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Toàn cảnh Hội thảo
Tại tỉnh Bắc Ninh, công nghệ KSH được ứng dụng và phát triển nhanh từ năm 1997, đến nay, toàn tỉnh xây dựng được 21.681.000 công trình KSH các loại góp phần quan trọng cải thiện môi trường, sức khỏe con người, thúc đẩy chăn ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Trạm Khuyến nông huyện Lương Tài đã kết hợp với văn phòng Khí sinh học tỉnh Bắc Ninh xây dựng mô hình: “Ứng dụng phụ phẩm khí sinh học làm phân bón cho sản xuất cà rốt an toàn”. Qua hơn 3 tháng thực hiện mô hình thấy bã cặn và nước xả từ bể biogas có tác động tích cực vào thành phần cơ giới đất, làm cho đất tơi xốp hơn, tạo kiện thuận lợi cho củ phát triển. Năng suất đạt khoảng 2.300 kg/sào (1 sào = 360m2), cao hơn so đối chứng (2000kg/sào). Lãi suất của mô hình ứng dụng phụ phẩm khí sinh học cao hơn so với quy trình thông thường trung bình khoảng 800.000 đồng/sào (gần 24 triệu đồng/ha) so với đối chứng. Chương trình xây dựng bể biogas trong chăn nuôi đã trở thành phong trào ở tỉnh Ninh Bình. Từ 2 mô hình bể biogas do Trung tâm Khuyến nông Ninh Bình triển khai năm 1998, đến nay toàn tỉnh đã nhân rộng ra trên 4.000 hộ xây dựng công trình sử dụng khí sinh học, chiếm khoảng 60% số hộ chăn nuôi toàn tỉnh. Đa phần hộ chăn nuôi quy mô nhỏ đều xây biogas khoảng 6 - 7 khối, tận dụng khí thải nuôi từ 15 - 20 con lợn, chỉ sau một năm có thể thu hồi được vốn. Sử dụng biogas môi trường không bị ô nhiễm, gia súc gia cầm ít dịch bệnh. Đặc biệt là giảm sức lao động cho người dân nông thôn.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Hạ Thúy Hạnh - Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh, hội thảo nhằm đánh giá sự cần thiết và tác dụng của việc sử dụng công nghệ khí sinh học (biogas) trong việc xử lý chất thải trong chăn nuôi, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố có xu hướng phát triển công nghiệp và đô thị hóa cao. Đánh giá hiệu quả sử dụng công nghệ khí sinh học (biogas) trong việc xử lý chất thải chăn nuôi thành nguồn nhiên liệu và giảm khí phát thải chăn nuôi nói riêng và nông nghiệp nói chung góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm phát thải khí nhà kính và biến đổi khí hậu. Hiện nay, trong các hoạt động triển khai dự án khuyến nông Trung ương đã khuyến khích các hộ tham gia phải áp dụng biogas như một tiêu chí ưu tiên trong các mô hình khuyến nông. Tham gia mô hình, một số hộ chăn nuôi đã ứng dụng công nghệ khí sinh học (biogas), góp phần cải thiện môi trường và cung cấp nguồn nhiên liệu cho sinh hoạt gia đình và giảm thiểu dịch bệnh và chăn nuôi an toàn sinh học. Thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền, đào tạo tập huấn, xây dựng mô hình, hệ thống khuyến nông từ thôn bản đến các tỉnh, thành phố đã thực sự giúp hộ chăn nuôi cả nước áp dụng có hiệu quả và chuyển giao thành công chương trình khí sinh học trong chăn nuôi bền vững.
Theo Viện Chăn nuôi, công trình khí sinh học mang lại nhiều lợi ích to lớn cho con người trong việc tái sử dụng chất thải chăn nuôi làm nguồn năng lượng sạch (biogas), đồng thời giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính, mùi hôi thối nếu vận hành, quản lý và sử dụng bể biogas đúng kỹ thuật. Ngược lại, nếu công trình KSH không được vận hành, quản lý và sử dụng đúng kỹ thuật không chỉ gây ô nhiễm môi trường (mùi), giảm sự phì dưỡng đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm và khí CH4, CO2 gây hiệu ứng nhà kính từ nguồn chất thải sau biogas chưa bị phân giải hết và có tác dụng ngược trở lại và làm trái đất ấm dần lên. Vì vậy cần có sự khuyến cáo về quản lý sử dụng các công trình KSH để đảm bảo chăn nuôi an toàn và giảm hiệu ứng nhà kính.
Tham dự hội thảo, đại diện các tỉnh Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và Đà Nẵng đã có nhiều ý kiến tập trung vào việc làm rõ hơn các giải pháp phát triển công nghệ khí sinh học thúc đẩy phát triển chăn nuôi bền vững, đảm bảo vệ sinh môi trường, giảm phát khí thải nhà kính. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần quan tâm và có chính sách hỗ trợ cho phát triển khí sinh học biogas quy mô nông hộ và có biện pháp quản lý để hạn chế các cá nhân, tổ chức đưa công trình khí sinh học biogas chưa được kiểm chứng làm thiệt hại đến kinh tế của người chăn nuôi. Các cơ quan quản lý cần đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn của các công trình KSH phù hợp với vùng miền, quy mô nông hộ, giải pháp cụ thể như in ấn tờ rơi truyền tải đến bà con nông dân. Cần có đơn vị đánh giá độc lập hiệu quả của các hầm biogas (như KT1, KT2, composite...) để khuyến cáo cho người dân sử dụng hiệu quả nhất. Các biện pháp về xử lý nguồn nước thải sau chăn nuôi và cũng cần được nghiên cứu kỹ hơn để khuyến cáo người chăn nuôi đảm bảo chăn nuôi an toàn bền vững.
 |
 |
| Đại diện Trung tâm KN Lạng Sơn phát biểu ý kiến |
Ý kiến đại diện Trung tâm Khuyến ngư nông lâm Đà Nẵng |
Hội thảo đã đưa ra một số giải pháp, trọng tâm cần thực hiện đồng bộ như: Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về dự án, tập huấn kỹ thuật để nâng cao nhận thức cho người dân. Triển khai các dự án khuyến nông liên quan đến công nghệ khí sinh học, dự án tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến nông. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp, nhanh chóng cho các trang trại, hộ chăn nuôi tham gia dự án… Hội thảo đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả sử dụng công nghệ khí sinh học trong phát triển chăn nuôi bền vững. Các biện pháp khắc phục những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ khí sinh học (biogas).
Buổi chiều cùng ngày, các đại biểu đã đi thăm mô hình công trình khí sinh học (biogas) trong phát triển chăn nuôi bền vững tại hộ ông Lê Đắc Vinh - thôn Thượng, xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một công trình KSH tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, với thể tích bể là 2.000 m3, gia đình ông Vinh đã vận hành bể biogas và cung cấp về khí đốt và nguồn điện sinh ra từ KSH với trung bình 450kw/ngày đêm, tiết kiệm được 60% nguồn năng lượng của trang trại, tương ứng với số tiền 15 - 20 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, nước thải của biogas đưa xuống ao nuôi cá truyền thống (cá mè, trôi, chép), trong suốt thời gian nuôi, gia đình không phải bổ sung thêm thức ăn công nghiệp, tiết kiệm 100%, tương ứng với số tiền từ 180 - 200 triệu đồng. Đặc biệt, công trình KSH đã giải quyết được chất thải ra từ chăn nuôi và vấn đề ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất cho trang trại.
Chương trình KSH (biogas) đang dần được tiêu chuẩn hóa, và mang đến nhiều thông tin hữu ích cho người chăn nuôi. Phát triển công nghệ KSH (biogas) là một hướng đi đúng đắn để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giúp cho các hộ chăn nuôi xử lý chất thải, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm phát thải khí nhà kính góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững, an toàn sinh học.

Lãnh đạo TTKNQG, TTKNKN Bắc Ninh, TTKN Hải Phòng
cùng các đại biểu thăm mô hình công trình KSH trong phát triển chăn nuôi bền vững tại hộ ông Lê Đắc Vinh
Đăng Thúy