Mô hình sử dụng phân bón hữu cơ nano và chế phẩm sinh học trong sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP đang mở ra những tín hiệu tích cực cho ngành chè tỉnh Thái Nguyên. Đây là giải pháp góp phần chuyển đổi sang nông nghiệp sạch, bền vững và phù hợp với xu thế tiêu dùng xanh hiện nay.

    Dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình sử dụng phân bón hữu cơ nano và chế phẩm sinh học trong sản xuất chè theo VietGAP vùng miền núi phía Bắc” được thực hiện trong giai đoạn 2024 – 2025 tại HTX chè Trung Du Tân Cương. Mô hình có quy mô 15 ha/năm với sự tham gia của 30 hộ nông dân trên các giống chè Trung du, LDP1, LCT1 ở giai đoạn kinh doanh.

 

    Kế thừa các kết quả từ năm 2024, mô hình đã đi vào ổn định với các điểm nhấn kỹ thuật:

+ Công nghệ phân bón: Sử dụng phân hữu cơ nano UPLML (Đức) giúp cây tăng khả năng hấp thu dưỡng chất, cải tạo độ tơi xốp cho đất và thúc đẩy bộ rễ phát triển. Phân bón hữu cơ nano UPLML là sản phẩm phân bón hữu cơ nano nhập ngoại mới nhất hiện nay, đã được được công nhận là phân bón được phép lưu hành tại Việt Nam tại Quyết định số 1049/QĐ-BVTV-PB ngày 24 tháng 8 năm 2018 của Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).

+ Quản lý dịch hại: Sử dụng chế phẩm sinh học chế phẩm sinh học Neem Ferno được chiết xuất từ cây NEEM (cây xoan chịu hạn) ở Ninh Thuận. Các chế phẩm này không diệt côn trùng ngay lập tức mà gây ức chế hành vi, khiến sâu hại biếng ăn và mất khả năng sinh sản, giúp bảo vệ thiên địch và cân bằng sinh thái, sản phẩm an toàn cho cây trồng và người sử dụng. Sản phẩm thân thiện với môi trường góp phần hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ bền vững.

+ Chuẩn hóa vùng trồng: Tính đến cuối năm 2024, 10 ha diện tích chè trong dự án đã được Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Thái Nguyên cấp mã số vùng trồng tại văn bản số 966/CCTT&BVTV-KDTVNĐ ngày 02/12/2024.

 

    Dựa trên số liệu thực tế năm 2025, mô hình cho thấy sự cải thiện ổn định so với phương thức canh tác truyền thống. Sử dụng phân bón hữu cơ nano UPLML và chế phẩm sinh học Neem Ferno đối với cây chè giúp cây trồng mạnh khoẻ, tăng khả năng đề kháng cho cây đối với nấm bệnh, vi khuẩn, vi rút và điều kiện khí hậu bất lợi, có khả năng tăng năng suất cây trồng nhờ tăng hiệu quả hấp thu dưỡng chất của cây trồng so với phân bón thông thường, do đó mang lại nhiều giá trị kinh tế hơn cho nông dân. Các chế phẩm nano dễ sử dụng, dễ áp dụng và rất phù hợp với những cây trồng cây thu hoạch nhiều lần/năm, mật độ thu hoạch nhiều lần trong khoảng thời gian ngắn nên rất phù hợp đối với cây chè

 

    Dựa trên những nền tảng đã đạt được, trong giai đoạn từ năm 2026 trở đi, mô hình cần tập trung vào các định hướng sau:

+ Duy trì và mở rộng quy trình sinh học: Tiếp tục giám sát và duy trì quy trình sử dụng phân bón hữu cơ nano để thay thế dần phân bón hóa học (giảm tối thiểu 15% lượng phân bón gốc) nhằm cải tạo đất lâu dài.

+ Số hóa và truy xuất nguồn gốc: Thực hiện nghiêm túc việc duy trì, kiểm tra và giám sát mã số vùng trồng hàng năm theo quy định của Chi cục Trồng trọt và BVTV. Đây là yếu tố then chốt để đưa sản phẩm chè vào các chuỗi tiêu thụ hiện đại và vươn ra thị trường thế giới.

+ Thắt chặt liên kết chuỗi giá trị: Duy trì mô hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh theo chuỗi, đảm bảo tính bền vững của các hợp đồng liên kết giữa nông dân và HTX/Doanh nghiệp. Phấn đấu ổn định tỷ lệ tiêu thụ đạt 70% sản lượng thông qua các kênh liên kết.

+ Hướng tới nông nghiệp 4.0: Tiếp tục tuyên truyền, hướng dẫn người dân tiếp cận với các vật tư nông nghiệp thế hệ mới và phương thức quản lý vùng trồng hiện đại, khẳng định vị thế của thương hiệu chè Tân Cương.

TS. Hoàng Thị Thủy

Chi cục Trồng trọt và BVTV Tỉnh Thái Nguyên