Chủ động sản xuất con giống

Những ngày còn nhỏ, mỗi lần ra đồng anh Quảng thường bắt lươn và dần hình thành niềm yêu thích với loài vật này. Sau này, khi nhận thấy lươn tự nhiên ngoài đồng ngày càng ít, anh bắt đầu trăn trở về việc chủ động nuôi và nhân giống đối tượng này. Năm 2024, anh bắt đầu những lứa nuôi đầu tiên, từng bước tích lũy kinh nghiệm, mở rộng quy mô, đồng thời nghiên cứu kỹ thuật sản xuất con giống.  

Hiện tổng diện tích khu sản xuất của gia đình khoảng 600 m². Trong đó, khoảng 100 m² được bố trí nuôi lươn bố mẹ sinh sản trong môi trường có bùn. Khu nuôi được đặt ống để lươn trú ẩn và sinh sản. Khi lươn đẻ trứng, anh thu gom, vệ sinh và đưa vào dụng cụ ấp. Theo anh Quảng, thời gian ấp khoảng 5-7 ngày, sau đó lươn con tiếp tục được ương đến kích cỡ phù hợp với nhu cầu của người mua.

Lươn giống sản xuất ra vừa phục vụ các lứa nuôi của gia đình, vừa cung cấp cho các hộ có nhu cầu. Việc chủ động từ khâu sản xuất giống đến nuôi thương phẩm giúp gia đình anh hình thành quy trình sản xuất liên kết các khâu và chủ động hơn trong quá trình nuôi.

leftcenterrightdel
 Anh Quảng với mô hình nuôi lươn của gia đình

Kết hợp nhiều phương thức nuôi, mạnh dạn thử nghiệm cách làm mới

Đối với lươn thương phẩm, gia đình anh Quảng đang kết hợp nhiều hình thức nuôi. Anh có 10 bể xi măng, mỗi bể khoảng 4 m², được nuôi theo phương thức không sử dụng bùn. Ngoài ra anh còn bố trí 12 lồng nuôi, mỗi lồng khoảng 1,2 m², bên trong có sử dụng bèo hoa dâu. Qua theo dõi thực tế, anh tiếp tục điều chỉnh cách bố trí lồng, mật độ và môi trường nước để phù hợp với quá trình sinh trưởng của lươn. Theo chia sẻ của anh Quảng, đây là cách làm được gia đình tự thử nghiệm trong quá trình sản xuất, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá trong quá trình sản xuất.

Điểm đáng ghi nhận là người nuôi đã chủ động quan sát, thử nghiệm và điều chỉnh kỹ thuật thay vì chỉ áp dụng một phương thức cố định.

Anh Quảng chia sẻ, tỷ lệ sống của lươn đạt trên 80%. Gia đình thường thả giống vào khoảng tháng 3-4, đồng thời bố trí nuôi gối các lứa để có sản phẩm cung cấp quanh năm. Thức ăn chủ yếu là thức ăn chuyên dụng cho lươn, kết hợp sử dụng men tiêu hóa và vitamin C theo kinh nghiệm sản xuất của hộ.

leftcenterrightdel
 Khu thử nghiệm nuôi lươn trong lồng kết hợp sử dụng bèo hoa dâu của anh Quảng

Tham gia mô hình khuyến nông để hoàn thiện quy trình và liên kết tiêu thụ

Năm 2025, gia đình anh Quảng được tham gia một mô hình thuộc chương trình khuyến nông và được hỗ trợ một phần kinh phí, con giống, thức ăn cùng một số vật tư phục vụ sản xuất. Từ những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được, anh tiếp tục chủ động đầu tư, hoàn thiện quy trình và mở rộng các khâu sản xuất.

Lươn thương phẩm được gia đình tiêu thụ qua nhiều kênh như nhà hàng, thương lái và người dân trên địa bàn. Việc vừa sản xuất giống, vừa nuôi thương phẩm giúp hộ chủ động hơn về nguồn giống và có thêm các kênh tiêu thụ sản phẩm.

Hiệu quả kinh tế của mô hình phụ thuộc khá lớn vào giá lươn thương phẩm. Theo anh Quảng, những thời điểm giá bán thuận lợi, lợi nhuận từ mô hình có thể đạt khoảng 500 triệu đồng/năm. Thời điểm hiện tại, khi giá lươn giảm còn khoảng 60.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, gia đình vẫn đạt lợi nhuận khoảng 150-200 triệu đồng/năm.

Vừa qua, trong khuôn khổ chương trình tập huấn về công tác khuyến nông trong thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, Đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nghệ An đã đến tham quan, trao đổi và học tập kinh nghiệm thực tế tại mô hình nuôi lươn của anh Nguyễn Sỹ Quảng.

Tại mô hình, cán bộ khuyến nông và các thành viên trong đoàn có điều kiện trao đổi trực tiếp với hộ sản xuất về kỹ thuật nuôi lươn bố mẹ, thu và ấp trứng, ương lươn giống, nuôi thương phẩm trong bể xi măng và thử nghiệm nuôi trong lồng có sử dụng bèo hoa dâu. Đây cũng là dịp để chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong quản lý môi trường nước, tổ chức nuôi gối lứa, chủ động con giống và tiêu thụ sản phẩm.

Từ một người trở về quê lập nghiệp với niềm yêu thích con lươn, anh Nguyễn Sỹ Quảng đang từng bước xây dựng mô hình theo hướng chủ động từ con giống đến nuôi thương phẩm và tiêu thụ. Những kinh nghiệm thực tế từ mô hình là nguồn thông tin có giá trị tham khảo cho công tác khuyến nông, đồng thời có thể tiếp tục được đánh giá, hoàn thiện để lựa chọn những giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.

Lê Ngọc

Trung tâm cung ứng dịch vụ công xã Quỳ Hợp, Nghệ An