Đây không chỉ là hoạt động hướng dẫn thủ tục hành chính, mà còn là bước cụ thể hóa yêu cầu chuyển từ “cấp mã số” sang “quản lý mã số”, từ quản lý hồ sơ sang quản trị dữ liệu và nâng cao trách nhiệm của địa phương trong phục vụ sản xuất, xuất khẩu nông sản.
Để chính sách đi vào thực tiễn
Nghị quyết 36 đặt ra yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính về MSVT, MSCSĐG, trong đó triển khai trên môi trường điện tử là một nội dung quan trọng. Để chính sách mới nhanh chóng được tổ chức thực hiện thống nhất tại cơ sở, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã tổ chức các đoàn công tác hỗ trợ địa phương.
Theo Quyết định của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Đoàn công tác hỗ trợ các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Khánh Hòa, Đồng Nai được giao nhiệm vụ rà soát tình hình triển khai Nghị quyết; hướng dẫn quy trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ cấp mới, cấp lại MSVT, MSCSĐG trên môi trường điện tử; hỗ trợ trực tiếp tại một số xã; phổ biến những nội dung mới của Nghị quyết và hướng dẫn thao tác trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Đồng thời, đoàn trao đổi, làm rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và UBND cấp xã trong quản lý, giám sát, hậu kiểm, cập nhật và lưu trữ dữ liệu sau khi mã số được cấp.
Với tinh thần “hướng dẫn đến đâu, thực hành đến đó; tháo gỡ vướng mắc ngay tại cơ sở”, đoàn công tác phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng các cơ quan liên quan rà soát khó khăn, vướng mắc; hướng dẫn quy trình, hồ sơ, biểu mẫu và thao tác thực hiện trên môi trường điện tử.
Khuyến nông chung tay hành động giúp cơ sở từ “biết quy định” đến “biết làm”
Trong thành phần các Đoàn công tác, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia được phân công tham gia cùng các đơn vị chuyên môn về trồng trọt và bảo vệ thực vật, chuyển đổi số, quản lý đất đai, chất lượng, chế biến và phát triển thị trường.
Đây là sự phối hợp có ý nghĩa thiết thực bởi MSVT và MSCSĐG không phải là một thủ tục hành chính tách rời sản xuất. Đằng sau một mã số là cả một hệ thống yêu cầu về tổ chức sản xuất, ghi chép nhật ký, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại, sử dụng vật tư đầu vào, kiểm soát quá trình thu hoạch, sơ chế, đóng gói và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Vì vậy, để mã số thực sự có giá trị, cần hình thành năng lực quản lý xuyên suốt từ người sản xuất – vùng trồng – cơ sở đóng gói – cơ quan quản lý – thị trường. Đây cũng chính là không gian để hệ thống khuyến nông phát huy vai trò đồng hành, hướng dẫn và kết nối.
Một trong những nội dung trọng tâm của chương trình công tác tại các tỉnh là tập huấn, hướng dẫn cán bộ cấp tỉnh và cấp xã được giao nhiệm vụ chuyên môn.
Nội dung tập huấn tập trung vào những vấn đề thiết thực: các nội dung cơ bản và điểm mới của Nghị quyết 36; quy định về MSVT, MSCSĐG; quản lý và giám sát mã số sau khi được cấp; yêu cầu về truy xuất nguồn gốc; ghi chép nhật ký sản xuất, nhật ký đóng gói; yêu cầu của thị trường nhập khẩu; nghiệp vụ thực hiện thủ tục trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và giải đáp các tình huống phát sinh tại địa phương.
Cách làm này hướng tới mục tiêu giúp cán bộ cơ sở không chỉ biết quy định mà còn có khả năng thực hiện đúng quy trình, từng bước làm chủ công việc được giao và người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp có thể tiếp cận quy trình một cách rõ ràng, thuận lợi.
Quản lý mã số không dừng ở việc cấp mã
Một mã số được cấp mới chỉ là điểm bắt đầu. Giá trị của MSVT, MSCSĐG phụ thuộc rất lớn vào việc duy trì điều kiện, cập nhật thông tin, giám sát và hậu kiểm trong suốt quá trình sản xuất, đóng gói và xuất khẩu.
Chính vì vậy, chương trình công tác của Đoàn đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và UBND cấp xã trong quản lý, giám sát, hậu kiểm; cập nhật, quản lý và lưu trữ thông tin, dữ liệu sau khi mã số được cấp.
Mã số vùng trồng không phải là “giấy thông hành” cấp một lần rồi để đó; mã số cơ sở đóng gói cũng không chỉ là một con số phục vụ hồ sơ xuất khẩu. Mỗi mã số phải gắn với một vùng sản xuất, một cơ sở, một hệ thống hồ sơ và một quá trình giám sát có thể kiểm chứng.
Từ góc độ khuyến nông, điều này đòi hỏi phương thức hoạt động cũng phải đổi mới. Cán bộ khuyến nông không chỉ chuyển giao kỹ thuật canh tác mà cần hướng dẫn nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp hình thành thói quen ghi chép, lưu trữ, truy xuất và tuân thủ. Đây chính là nền tảng để sản xuất nông nghiệp đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.
Phối hợp liên ngành, lấy cơ sở làm trung tâm
Thành phần các Đoàn công tác cho thấy cách tiếp cận liên ngành khá rõ nét: có sự tham gia của các đơn vị về trồng trọt và bảo vệ thực vật, quản lý đất đai, chuyển đổi số, quản lý chất lượng, chế biến, phát triển thị trường và khuyến nông.
Sự phối hợp này là cần thiết bởi quá trình xây dựng và quản lý MSVT, MSCSĐG liên quan đồng thời đến quản lý sản xuất, dữ liệu, thủ tục hành chính, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu thị trường.
Tại các tỉnh đã triển khai, chương trình làm việc được thiết kế theo ba nhóm hoạt động chính: làm việc với cơ quan chuyên môn để rà soát tình hình và khó khăn; tổ chức tập huấn cho cán bộ cấp tỉnh, cấp xã; sau đó tiếp tục trao đổi, hướng dẫn và giải đáp những vướng mắc trong quá trình triển khai.
Đây là cách tiếp cận rất phù hợp với yêu cầu của công tác khuyến nông hiện đại: lấy địa phương và cơ sở làm trung tâm, lấy vấn đề thực tiễn làm điểm xuất phát và lấy khả năng tự thực hiện của cán bộ cơ sở làm thước đo kết quả.
    |
 |
| Đại diện Cục Chuyển đổi số trả lời đại biểu vể việc triển khai đăng ký MSVT trên dịch vụ công quốc gia |
Tạo nền tảng cho nông sản xuất khẩu bền vững
Trong bối cảnh nông sản Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào thị trường quốc tế, yêu cầu về minh bạch nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và tuân thủ quy định của nước nhập khẩu ngày càng cao. Do đó, việc triển khai Nghị quyết 36 tại các địa phương không chỉ mang ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính mà còn góp phần nâng cao năng lực quản trị ngành hàng.
Đối với những địa phương có nhiều vùng sản xuất hàng hóa và sản phẩm phục vụ xuất khẩu, việc chuẩn hóa quy trình cấp và quản lý MSVT, MSCSĐG sẽ tạo điều kiện để địa phương quản lý tốt hơn vùng sản xuất, doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chuỗi cung ứng và người sản xuất chủ động hơn trong đáp ứng yêu cầu thị trường.
Với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, tham gia chương trình này cũng là cơ hội để tiếp tục đổi mới phương thức hỗ trợ nông dân: từ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đơn thuần sang đồng hành trong toàn bộ quá trình hình thành vùng sản xuất đạt chuẩn, truy xuất được nguồn gốc và kết nối với thị trường.
Cùng địa phương nâng cao năng lực từ cơ sở
Theo quy định trong các Quyết định của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Đoàn công tác có vai trò hỗ trợ, hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật và phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, không làm thay chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan chuyên môn địa phương và UBND cấp xã.
Đây là nguyên tắc quan trọng để chương trình đạt hiệu quả lâu dài. Trung ương hỗ trợ, địa phương chủ động; cơ quan chuyên môn hướng dẫn, cán bộ cơ sở thực hiện; khuyến nông đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp địa phương thực hiện đúng Nghị quyết 36, mà quan trọng hơn là hình thành được một phương thức quản lý MSVT, MSCSĐG thống nhất, minh bạch, thuận lợi, có khả năng kiểm tra, giám sát và truy xuất, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Từ chương trình triển khai tại các tỉnh, đoàn công tác sẽ tiếp tục có kế hoạch triển khai ở các tỉnh còn lại của cả nước trong thời gian tới, với mục tiêu cùng địa phương nâng cao năng lực quản lý, xây dựng vùng sản xuất hàng hóa có trách nhiệm, cơ sở đóng gói chuyên nghiệp và chuỗi nông sản Việt Nam đủ năng lực đáp ứng thị trường trong nước và quốc tế.
Quang Vinh
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia