1. Biện pháp giống
- Sử dụng hạt giống lúa đảm bảo chất lượng Sử dụng hạt giống lúa đạt tiêu chuẩn từ cấp xác nhận trở lên, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
2. Biện pháp canh tác
* Biện pháp làm đất
- Làm đất 2 lần: Áp dụng cho diện tích nhiễm lúa cỏ mức trung bình (10 - 20%).
- Lần 1 làm đất tối thiểu, sử dụng máy phay hoặc bừa làm tơi lớp đất bề mặt ruộng, cho nước vào ruộng, ngâm trong 24 - 48 giờ, sau đó rút nước và giữ cho nền đất ruộng đủ ẩm từ 7 - 10 ngày để hạt lúa cỏ nảy mầm. Khi cây lúa cỏ có 2 - 4 lá, tiến hành làm đất kỹ để gieo sạ/cấy. Nếu thời vụ cho phép, có thể lặp lại để tiêu diệt lúa cỏ còn tồn dư trong đất.
- Nếu khoảng cách giữa 2 vụ quá ngắn: Tạo ẩm mặt ruộng ngay sau thu hoạch để kích thích hạt lúa cỏ nảy mầm, khi cây lúa cỏ đạt 2 - 4 lá, tiến hành làm đất kỹ tiêu diệt lúa cỏ rồi gieo sạ/cấy.
* Ngăn chặn sự lan truyền qua máy nông cụ, nguồn nước tưới
- Tiến hành vệ sinh máy gặt, máy làm đất sạch sẽ sau khi sử dụng ở vùng nhiễm lúa cỏ.
- Ngăn chặn sự lan truyền qua nguồn nước: Dùng lưới hoặc túi lưới có kích thước lỗ nhỏ (0,4 x 0,8mm) chặn đầu nguồn dẫn nước vào ruộng.
- Biện pháp chuyển đổi phương thức gieo cấy: Chuyển đổi phương thức canh tác từ gieo sạ sang cấy (cấy tay, mạ khay cấy máy), từ sạ lan sang sạ hàng để dễ dàng loại bỏ cây lúa cỏ khỏi ruộng.
* Biện pháp quản lý nước
- Với lúa gieo sạ:
+ Giai đoạn 0 - 3 ngày sau sạ (NSS): Giữ đất ẩm để tạo điều kiện cho hạt lúa nảy mầm và bén rễ.
+ Giai đoạn 4 - 10 NSS: Cho nước từ từ vào ruộng và duy trì mực nước trên ruộng từ 1 - 3 cm để hạn chế lúa cỏ nảy mầm và phát triển.
+ Giai đoạn 11 - 45 NSS: Duy trì mực nước ruộng từ 3 - 5 cm đến khi cây lúa kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu để hạn chế lúa cỏ phát triển.
- Với lúa cấy: Với những ruộng nhiễm lúa cỏ, duy trì mực nước trong ruộng (3 - 5 cm) từ khi cấy đến 45 ngày sau cấy để hạn chế hạt lúa cỏ nảy mầm.
* Biện pháp khử lẫn: Làm cỏ/khử lẫn cần tiến hành xuyên suốt từ giai đoạn đẻ nhánh - trổ nhằm loại bỏ cây lúa cỏ, hạn chế tối đa việc hình thành và rơi rụng hạt xuống ruộng.
- Giai đoạn đẻ nhánh - phân hóa đòng:
+ Với ruộng lúa sạ lan: Tiến hành làm cỏ/khử lẫn, nhổ bỏ những cây khác dạng và cây lúa cỏ.
+ Với ruộng lúa sạ hàng và cấy: loại bỏ những cây mọc lệch hàng và những cây lúa cỏ kết hợp làm cỏ sục bùn để hạn chế sinh trưởng của lúa cỏ.
- Giai đoạn trổ: tiếp tục nhổ, tiêu hủy các cây và bông lúa cỏ mới trổ trước khi đậu hạt.
Trong quá trình làm cỏ, khử lẫn cần nhổ cả cây lúa cỏ bao gồm cả gốc rễ, mang ra khỏi ruộng để tiêu hủy (có thể làm thức ăn gia súc khi cây còn non hoặc phơi khô, đốt/ủ làm phân), tuyệt đối không vứt lại trên bờ mương hoặc trong ruộng. Với những ruộng nhiễm nặng, cần cắt bỏ trước trổ và tiêu hủy. Sau thu hoạch, cày vùi rơm rạ và xử lý chế phẩm sinh học để phân hủy tàn dư.
    |
 |
| Hình ảnh cây lúa cỏ lẫn trong ruộng lúa |
3. Biện pháp sinh học
Sau khi gặt xong ở những vùng có nuôi vịt, tiến hành thả vịt vào ruộng để vịt ăn hạt lúa cỏ rơi rụng trên đồng ruộng, giúp giảm mật độ lúa cỏ.
4. Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
- Sử dụng thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất Pretilachlor + Fenclorim (chất bảo vệ) sau khi gieo sạ/cấy 1 - 2 ngày để trừ cỏ và ức chế hạt lúa cỏ nảy mầm trong giai đoạn đầu.
- Sử dụng thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất Glufosinate ammonium: Áp dụng để tiêu hủy ruộng lúa bị nhiễm lúa cỏ nặng (mật độ lúa cỏ >20%).
+ Trước khi gieo sạ/cấy, tiến hành làm đất tối thiểu, cho nước vào ruộng ngâm 24 - 48 giờ, sau đó rút nước từ từ và giữ cho nền đất ruộng đủ ẩm để kích thích hạt lúa cỏ nảy mầm đồng loạt (khoảng từ 7 - 10 ngày). Khi lúa cỏ đạt 2 - 4 lá, tiến hành xử lý thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất Glufosinate ammonium. Sau xử lý để ruộng tối thiểu 10 - 15 ngày rồi tiến hành làm đất kỹ để gieo sạ hoặc cấy.
+ Sau khi gieo sạ/cấy, có thể phun Glufosinate ammonium để tiêu hủy lúa cỏ ở giai đoạn đẻ nhánh đến trước trổ nhằm hạn chế phát tán hạt.
Lưu ý: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất và tuân thủ nguyên tắc 4 đúng.
BBT (gt)