Năm 2025, ngành thủy sản thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó khó khăn nhất về thị trường xuất khẩu với các điều chỉnh về chính sách thuế và thương mại của chính quyền Hoa Kỳ, cùng với căng thẳng thương mại, xung đột lợi ích và những biến động phức tạp trên thị trường quốc tế đã tác động không nhỏ đến chuỗi cung ứng và tiêu thụ thủy sản.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương và nỗ lực vượt khó của toàn ngành; sản xuất, xuất khẩu thủy sản đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản lượng thủy sản năm 2025 đạt 9,95 triệu tấn, tăng 3% so với năm 2024. Trong đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 6,1 triệu tấn, tăng 5,1% so với năm 2024. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 11,32 tỷ USD, trong đó giá trị xuất khẩu sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản ước đạt trên 8,0 tỷ USD.
Tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành kế hoạch sản xuất, xuất khẩu thủy sản năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương khẩn trương tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền, triển khai thực hiện các quy định của pháp luật trong nuôi trồng thủy sản được quy định tại Luật Thủy sản năm 2017, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi 15 Luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường và các văn bản hướng dẫn, những nội dung được phân cấp, phân quyền cho địa phương.
Các Sở tổ chức triển khai hiệu quả các thủ tục hành chính trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đã được phân cấp, phân quyền cho địa phương, bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh thủy sản được thông suốt, không bị gián đoạn; tập trung thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký nuôi trồng thuỷ sản lồng bè, đối tượng thuỷ sản nuôi chủ lực, giao khu vực biển phục vụ nuôi trồng thủy sản, khảo nghiệm giống thủy sản, thức ăn thủy sản.
Đối với công tác quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản:
- Rà soát, tổng hợp và chuẩn bị đầy đủ nguồn vật tư đầu vào (giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản,...), sẵn sàng cung ứng đủ nhu cầu và đảm bảo chất lượng cho nuôi trồng thủy sản trên cả nước, nhất là với tôm nước lợ, cá tra, nuôi biển.
- Tổ chức kiểm tra, kiểm tra duy trì điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản, đảm bảo 100% cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản được kiểm tra, cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản và được kiểm tra duy trì, nhất là đối với tôm nước lợ, cá tra, nhuyễn thể, cá biển.
- Tiếp tục tổ chức kiểm tra duy trì điều kiện cơ sở sản xuất; rà soát sản phẩm đã được cung cấp thông tin trên Cơ sở dữ liệu giống thủy sản, thức ăn thủy sản (https://csdl.tongcucthuysan.gov.vn), đảm bảo thông tin sản phẩm được cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển giống thủy sản, nhất là giống thủy sản bố mẹ. Huy động nguồn lực nghiên cứu, chọn tạo giống theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với nhu cầu của thị trường; nghiên cứu, phát triển thức ăn thủy sản cho các đối tượng nuôi mới, có giá trị kinh tế, nghiên cứu phát triển thức ăn theo hướng giảm phát thải nhằm “xanh hóa vùng nuôi”.
Công tác quản lý và phát triển nuôi trồng thủy sản,
- Tổ chức thực hiện và kiểm soát khung lịch mùa vụ thả giống năm 2026 đối với các đối tượng nuôi chủ lực, chủ động điều chỉnh thời vụ phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Chuẩn bị đầy đủ các phương án, điều kiện cần thiết để ứng phó với thiên tai, thời tiết bất lợi như bão, lũ, rét đậm, rét hại, hạn hán, xâm nhập mặn, mưa trái mùa và các yếu tố bất lợi khác ảnh hưởng đến sản xuất nuôi trồng thủy sản;
- Rà soát, điều chỉnh cơ cấu sản xuất nuôi trồng thủy sản tại địa phương theo hướng: (1) Ổn định và nâng cao hiệu quả các đối tượng nuôi chủ lực các đối tượng có lợi thế (tôm nước lợ, cá tra, cá rô phi, cá biển); (2) Phát triển có chọn lọc các đối tượng nuôi đặc thù, bản địa và có tiềm năng thị trường (tôm hùm, cua biển, nhuyễn thể, rong biển và các đối tượng nuôi khác phù hợp điều kiện địa phương); (3) Chủ động theo dõi, dự báo diễn biến thị trường, kiểm soát quy mô sản xuất, tránh phát triển nóng, tự phát, gây mất cân đối cung – cầu và rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm.
- Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, sông và hồ chứa theo quy định của Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn; chủ động triển khai phân cấp, giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân theo quy định; rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính, đất đai, mặt nước, giao khu vực biển và tiếp cận tín dụng; khuyến khích thu hút đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản công nghiệp, hiện đại, bền vững;
- Thúc đẩy tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường liên kết chuỗi giá trị từ cung ứng con giống, thức ăn, vật tư, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung, liên kết thu mua sản phẩm, chia sẻ thông tin thị trường và yêu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu;
- Tăng cường quản lý điều kiện nuôi trồng thủy sản; tổ chức rà soát, hướng dẫn và đẩy mạnh thực hiện đăng ký nuôi trồng thủy sản, đặc biệt đối với nuôi trồng thủy sản lồng bè, đối tượng nuôi chủ lực; cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản theo quy định phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành;
- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, công nghệ cao, công nghệ sinh học và công nghệ số trong quản lý, giám sát và tổ chức sản xuất nuôi trồng thủy sản; khuyến khích phát triển mô hình nuôi thông minh, nuôi trồng tuần hoàn, nuôi phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nuôi tham gia đầu tư vào nuôi trồng công nghệ cao, chế biến sâu, dịch vụ hậu cần và các dịch vụ hỗ trợ phục vụ nuôi trồng thủy sản;
- Tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm ngay từ khâu sản xuất ban đầu trong nuôi trồng thủy sản; giám sát chặt chẽ việc sử dụng con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, hóa chất, chế phẩm sinh học đảm bảo không để tình trạng sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm hoặc ngoài danh mục; xử lý nghiêm các vi phạm và công khai kết quả xử lý theo quy định; chủ động chuẩn bị điều kiện đáp ứng yêu cầu thanh tra, kiểm tra của các thị trường nhập khẩu;
- Tổ chức tốt công tác quan trắc, cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi tập trung; chủ động phối hợp với các đơn vị chuyên môn theo dõi, cảnh báo kịp thời các yếu tố môi trường bất lợi, đặc biệt đối với nuôi lồng bè, nuôi biển, nuôi thâm canh mật độ cao. Thông tin kịp thời đến người nuôi về diễn biến khí tượng, thủy văn, chất lượng môi trường nước và tình hình dịch bệnh theo phương châm “phòng bệnh chủ động từ sớm, từ xa” nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại.
Công tác phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản,
- Bố trí kinh phí và triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch quốc gia phòng, chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi giai đoạn 2021–2030 ban hành kèm theo Quyết định số 434/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Đối với công tác phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Bộ trong quá trình tổ chức thực hiện, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
- Trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương, lựa chọn một số doanh nghiệp sản xuất thủy sản phục vụ xuất khẩu và các cơ sở sản xuất giống thủy sản trên địa bàn để hỗ trợ giám sát dịch bệnh, hỗ trợ chuyên môn trong quá trình xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh; đồng thời tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản đăng ký cấp Giấy chứng nhận và duy trì cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định.
- Chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với chính quyền cấp xã theo dõi sát tình hình dịch bệnh động vật thủy sản; hướng dẫn người nuôi áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật; xử lý kịp thời các trường hợp thủy sản nuôi chết hoặc có dấu hiệu bất thường; cập nhật đầy đủ, chính xác tình hình dịch bệnh trên Hệ thống VAHIS – Hợp phần thủy sản và kịp thời báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (qua Cục Thủy sản và Kiểm ngư) để phối hợp chỉ đạo, xử lý đối với các bệnh mới, chưa rõ nguyên nhân hoặc tác nhân gây bệnh.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW với những nội dung sau:
- Tổ chức xây dựng, triển khai 03 bài toán lớn về khoa học, công nghệ trong nuôi trồng thủy sản: (1) Chương trình KHCN và ĐMST phát triển giống tôm; (2) Chương trình KHCN và ĐMST phát triển nuôi biển (cá, nhuyễn thể, rong, tảo); (3) Chương trình KHCN và ĐMST phát triển nuôi thủy sản nội địa.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, nuôi trồng thủy sản, quản lý bệnh thủy sản. Thường xuyên cập nhật, làm giàu dữ liệu về giống, thức ăn thủy sản (https://csdl.tongcucthuysan.gov.vn), nuôi trồng thủy sản (https://ntts.tongcucthuysan.gov.vn) và dữ liệu về bệnh thủy sản (VAHIS).
Đồng thời tổ chức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong nuôi trồng thủy sản (quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, quản lý bệnh thủy sản, điều kiện nuôi trồng thủy sản, an toàn thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản); xử lý nghiêm các vi phạm (nếu có) và công khai kết quả xử lý theo quy định.
BBT