Hội thảo có sự tham dự của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; Viện Cây Lương thực – Cây thực phẩm và các đơn vị trực thuộc: Trung tâm nghiên cứu và phát triển Cây có củ, Trung tâm Tài nguyên thực vật, Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ; Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ; Hiệp hội Sắn Việt Nam; Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa và các đơn vị trực thuộc; Trung tâm Khuyến nông Nghệ An; Trung tâm Khuyến nông và Xúc tiến thương mại tỉnh Ninh Bình; Đại diện lãnh đạo UBND, Phòng kinh tế và nông dân các xã Kiến Thọ, Ngọc Lặc, Thiệu Sơn, Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, Hội thảo có sự tham dự của Công ty sản xuất và chế biến sắn Phúc Thịnh, công ty Pesico Việt Nam; Các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương: Đài truyền hình Việt Nam (VTV8), báo Kinh tế nông thôn, Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Báo phát thanh và truyền hình tỉnh Thanh Hóa..
Phát biểu khai mạc, đại diện Trung tâm Khuyến nông quốc gia nhấn mạnh: “Phát triển sắn bền vững không chỉ là yêu cầu cấp thiết đối với ngành hàng chiến lược, mà còn là giải pháp giúp nông dân miền núi, trung du nâng cao thu nhập, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.”
    |
 |
| PGĐ TTKNQG Hoàng Văn Hồng phát biểu khai mạc |
Cây sắn – từ cây xoá đói đến cây làm giàu
Theo báo cáo của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, hiện cả nước duy trì hơn 500 nghìn ha sắn, sản lượng đạt trên 10 triệu tấn củ tươi/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 1–1,2 tỷ USD, đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan. Riêng 6 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn đạt 2,3 triệu tấn, giá trị 711,5 triệu USD, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Cây sắn đã và đang khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp, từ cây lương thực truyền thống trở thành nguyên liệu công nghiệp giá trị cao phục vụ chế biến tinh bột, thực phẩm, ethanol và xuất khẩu.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành hàng sắn vẫn đang đối mặt nhiều khó khăn: Liên kết trong chuỗi giá trị yếu, sản xuất phân tán, nhỏ lẻ. Giá cả thấp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố; thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích rủi ro giữa nông dân, nhà máy và các bên liên quan. Hiện khoảng 80–85% sản lượng sắn tiêu thụ qua thương lái, chỉ khoảng 5% được bao tiêu chính thức qua hợp đồng với doanh nghiệp; Giống sắn thoái hóa, bệnh khảm lá sắn vẫn là mối đe dọa nghiêm trọng, gây giảm năng suất và chất lượng; Công nghệ chế biến và ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa đồng đều giữa các vùng; tình trạng phá rừng trồng sắn, trồng sắn quảng canh năng suất thấp; ô nhiễm môi trường trong chế biến sắn trong khi yêu cầu thị trường ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, an toàn và phát triển xanh.
    |
 |
| Các đại biểu tham quan nhà máy chế biến sắn Phúc Thịnh tại xã Kiến Thọ, tỉnh Thanh Hóa |
Định hướng phát triển ngành hàng sắn đến năm 2030
Chiến lược phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn 2050 được xác định theo hướng hiệu quả – bền vững – hiện đại, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, hợp tác xã là cầu nối và nông dân là chủ thể sản xuất.
Các mục tiêu chính đến năm 2030 gồm:
Ổn định diện tích 480–510 nghìn ha, sản lượng đạt 11,5–12,5 triệu tấn;
40–50% diện tích sử dụng giống đạt chuẩn, 50% áp dụng canh tác bền vững;
85% sản lượng sắn được sử dụng cho chế biến sâu;
Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8–2 tỷ USD, hướng tới 2,5 tỷ USD vào năm 2050.
Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp đã thảo luận sôi nổi về giải pháp thúc đẩy liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển thị trường tiêu thụ ổn định.
Ông Nghiêm Minh Tiến – Phó chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết, muốn ngành sắn phát triển bền vững, cần tổ chức lại sản xuất, quy hoạch vùng nguyên liệu; Gắn kết sản xuất với khâu chế biến và tiêu thụ thông qua các hợp đồng trách nhiệm, đồng thời xem xét áp dụng cơ chế bảo hiểm nông sản để giảm thiểu rủi ro cho người sản xuất. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, sử dụng giống sạch bệnh và đẩy mạnh chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm.
    |
 |
| Ông Nghiêm Minh Tiến – Phó chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam phát biểu tại hội thảo |
Giải pháp từ thực tiễn khuyến nông
Những năm qua, các chương trình khuyến nông quốc gia đã triển khai hiệu quả nhiều mô hình canh tác sắn bền vững trên đất dốc cho năng suất tăng 10–30%, hiệu quả kinh tế tăng tối thiểu 15% so với sản xuất đại trà. Các giống sắn mới như HN3, HN5, HN97, HM80, HN1 và STB1 có khả năng kháng bệnh khảm lá hiệu quả, được nhân rộng, góp phần cải thiện năng suất và chất lượng nguyên liệu.
Các mô hình khuyến nông trung ương về sản xuất sắn bền vững tại địa phương như Phú Thọ, Gia Lai, Tây Ninh, Thanh Hóa… đã chứng minh rằng, sản xuất sắn sạch bệnh không chỉ tăng năng suất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt. Các mô hình đã góp phần xây dựng liên kết “4 nhà” (nhà nông – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học – Nhà nước), gắn kết vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến, bước đầu hình thành chuỗi giá trị sắn bền vững.
Tại hội thảo, đại diện Trung tâm Khuyến nông quốc gia khẳng định vai trò của hệ thống khuyến nông trong thúc đẩy ngành sắn phát triển: “Khuyến nông không chỉ giới thiệu mô hình điểm mà còn là cầu nối chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ tổ chức sản xuất và đào tạo nông dân theo hướng chuyên nghiệp.”
    |
 |
| Đại diện TTKNQG báo cáo kết quả thực hiện các dự án về sắn |
Hướng tới chuỗi giá trị sắn xanh – bền vững
Các đại biểu thống nhất rằng, để phát triển ngành sắn hiệu quả và bền vững cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: Quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến; Ứng dụng cơ giới hóa, công nghệ sinh học trong sản xuất; Liên kết chặt chẽ giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp; Đa dạng hóa sản phẩm chế biến sâu như tinh bột biến tính, ethanol sinh học, phụ phẩm hữu cơ; Đảm bảo truy xuất nguồn gốc và bảo vệ môi trường.
Hội thảo kết thúc trong không khí thống nhất, quyết tâm của các bên tham gia nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị sắn phát triển theo hướng xanh, bền vững, nâng cao thu nhập cho nông dân và đóng góp tích cực cho mục tiêu tăng trưởng nông nghiệp quốc gia.
Nguyễn Sâm
Trung tâm Khuyến nông quốc gia