Theo báo cáo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến tháng 8 năm 2026, diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững đạt 420.813 ha, tương đương 89,8% mục tiêu diện tích của giai đoạn hiện tại. Trong đó, diện tích áp dụng đầy đủ các tiêu chí của quy trình bền vững đạt 67.648 ha, chiếm 14,43% tổng diện tích. Trên 175.000 hộ dân đăng ký tham gia Đề án, cho thấy sự quan tâm và hưởng ứng tích cực của người dân đối với định hướng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp và bền vững. Diện tích nhân rộng tăng nhanh qua các năm, từ mục tiêu 180.000 ha năm 2025, thực hiện 379.449 ha vào cuối năm 2025 và đạt 420.813 ha vào tháng 8 năm 2026.
Kết quả trên chủ yếu được hình thành trên cơ sở kế thừa các vùng sản xuất đã được đầu tư, hỗ trợ từ các dự án từ Dự án VnSAT, TRVC, đồng thời tiếp tục mở rộng các vùng sản xuất theo hướng tăng trưởng xanh, từng bước chuẩn hóa theo tiêu chí của Đề án và tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị.
An Giang tiếp tục là địa phương dẫn đầu về quy mô triển khai, các địa phương khác đang tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và nhân rộng các mô hình, tạo nền tảng để mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng triển khai Đề án trong giai đoạn tiếp theo.
Kết quả tại các mô hình cho thấy việc áp dụng quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp giúp giảm đầu vào, đồng thời duy trì hoặc nâng cao năng suất, lợi nhuận. So với phương thức canh tác thông thường, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 30–50%, phân bón hóa học giảm 20–30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2–3 lần/vụ và lượng nước tưới giảm 20–40%. Năng suất tăng khoảng 5–12%, lợi nhuận tăng khoảng 1,5–9,3 triệu đồng/ha/vụ. Quá trình triển khai đã tạo chuyển biến trong tổ chức sản xuất, từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, mở rộng liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp, áp dụng kỹ thuật giảm đầu vào, giảm phát thải và bước đầu gắn sản xuất với các phân khúc thị trường có yêu cầu cao hơn về chất lượng, môi trường và truy xuất nguồn gốc.
    |
 |
| Đến tháng 8 năm 2026, diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững đạt 420.813 ha |
Bên cạnh những kết quả đạt được, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cũng chỉ ra những “nút thắt” trong quá trình triển khai. Trong đó, Cục cho rằng cơ chế, chính sách và nguồn lực đầu tư cho Đề án chưa đầy đủ, đồng bộ; hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng, sấy, kho chứa và logistics tại nhiều vùng còn hạn chế. Cơ giới hóa chưa đồng bộ; ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số còn phân tán. Hệ thống MRV, tiêu chuẩn chứng nhận và cơ chế tín chỉ các-bon chưa hoàn thiện; chưa có cơ chế rõ ràng về quản lý nguồn thu và chia sẻ lợi ích từ kết quả giảm phát thải. Khả năng tiếp cận tín dụng của hợp tác xã, tổ hợp tác và nông dân còn khó khăn; nguồn lực quốc tế và nguồn tài chính xanh chưa được huy động tương xứng với nhu cầu. Năng lực quản trị, cung ứng dịch vụ và tổ chức liên kết của một số hợp tác xã còn yếu; hợp đồng liên kết với doanh nghiệp chưa ổn định, thiếu chế tài và động lực thị trường. Xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và phân biệt giá đối với gạo chất lượng cao, phát thải thấp còn hạn chế; thị trường chưa tạo động lực đủ mạnh cho người sản xuất.
Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đánh giá mặc dù đến nay phần diện tích thực hiện theo Đề án đạt trên 400 nghìn hecta, tuy nhiên theo ông tiến độ vẫn còn chậm. Ông cho biết, Bộ đang thực hiện các bước để đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh một số nội dung, trong đó vẫn giữ nguyên tên Đề án gắn với “1 triệu hecta” nhưng mục tiêu thực tế là hướng tới toàn bộ 1,7 triệu ha lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất theo quy trình chất lượng cao, phát thải thấp. Đồng thời hướng tới việc tất cả các nông sản của Việt Nam (không chỉ lúa gạo mà cả sầu riêng, cà phê...) đều phải sản xuất an toàn và có trách nhiệm, toàn bộ cây trồng sẽ được cấp mã số vùng trồng theo mục đích sử dụng đất thông qua thực hiện Chiến dịch "Sản xuất có trách nhiệm". Đặc biệt, Bộ đề xuất đơn giản hóa thủ tục, cụ thể là bỏ các thủ tục đăng ký tham gia phức tạp đối với hộ nông dân và hợp tác xã; hướng tới việc đầu tư tổng thể cho cả vùng.
Chỉ đạo những định hướng sắp tới, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đưa ra 6 vấn đề lớn mà Bộ và các đơn vị cùng các đối tác quốc tế cần tập trung triển khai tốt hơn. Đó là:
1. Hoàn thiện các gói kỹ thuật theo tiểu vùng: Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật cụ thể cho từng vùng nhỏ, đi kèm đó là quy trình thống nhất từ giống, canh tác, xử lý rơm rạ đến tiêu thụ.
2. Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung: Tích hợp các phương pháp đo MRV, tính chỉ số carbon, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc. Tiếp tục theo đuổi tín chỉ carbon để minh chứng cho thế giới về trách nhiệm bảo vệ môi trường của Việt Nam.
3. Chuỗi giá trị và năng lực của hợp tác xã: Thúc đẩy liên kết bền vững giữa doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã nhằm giảm rủi ro, tăng thu nhập cho nông dân. Đặc biệt lưu ý việc chia sẻ lợi ích hài hòa và hỗ trợ các đối tượng ưu thế như phụ nữ và trẻ em.
4. Kinh tế tuần hoàn: Trước mắt tập trung tối đa vào việc xử lý và tái sử dụng rơm rạ.
5. Tài chính xanh và carbon: Tìm kiếm các cơ chế tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Thứ trưởng đưa ra định nghĩa mới về tín dụng xanh: Không chỉ là cho nông dân vay tiền trực tiếp, mà việc người tiêu dùng có trách nhiệm chấp nhận mua gạo xanh với giá cao hơn cũng chính là một hình thức tín dụng xanh.
6. Xây dựng thương hiệu "Gạo Việt Nam xanh": Tập trung phát triển thị trường, nhãn hiệu, bao bì và trách nhiệm cộng đồng, coi đây là định hướng chiến lược với mục tiêu đem đến giá trị thương mại vượt trội và minh chứng cho nền sản xuất có trách nhiệm.
Kết thúc cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp gửi đi thông điệp mạnh mẽ: “Việt Nam vẫn quyết tâm thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa và thậm chí còn làm mạnh mẽ hơn và tốt hơn nữa”.
BBT