Cá còm còn có tên gọi cá nàng hai, thuộc họ cá thát lát (Notopteridae). Ngoài giá trị được sử dụng làm thực phẩm, cá còm còn được nuôi làm sinh vật cảnh. Đây là giống cá nước ngọt có khả năng chịu phèn.

Do cá còm có nhiều ưu điểm như: dễ nuôi, thịt ngọt và dai, có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, đặc biệt là món chả cá rất dễ tiêu thụ trên thị trường hiện nay; hơn nữa giá cả ổn định, bệnh cá ít xuất hiện và dễ trị hơn cá tra, nên chú dồn hết chi phí đầu tư cho đối tượng nuôi này.

Chú Lâm Vĩnh Gia bên bể ấp trứng cá còm của gia đình.

Thời gian đầu, chú lấy nguồn cá giống nơi khác đem về nuôi. Sau vài vụ nuôi, chú nghĩ “Làm thế nào để nhân giống loài cá này để không phải mất thời gian và chi phí mua con giống về nuôi?”. Sau đó, chú quyết định đi tham quan, học tập kinh nghiệm thực tế ở nhiều nơi và tìm tòi, học hỏi những thông tin trên sách, báo để về áp dụng cho cá sinh sản nhân tạo. Sau vài lần thất bại, chú đã đúc kết một số kinh nghiệm trong việc cho sinh sản nhân tạo giống cá còm.

Do đặc tính cá còm đẻ trứng dính, chú đã sử dụng giá thể bằng gạch tàu để cá còm đẻ trứng dính vào giá thể. Nhưng do việc sử dụng gạch tàu làm giá thể gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm tra vì các miếng gạch phải cắm ở dưới mặt nước ao. Sau một thời gian nghiên cứu, chú đã thay đổi giá thể bằng việc sử dụng các ống nhựa có đường kính 10 cm để dễ dàng kiểm tra trứng. Để dễ dàng cắm ống nhựa xuống dưới mặt nước ao, chú dùng nẹp tre kẹp vào ống nhựa, khi cá đẻ, trứng sẽ dính quanh mặt ngoài thành ống ống nhựa.

Để kích thích cá đẻ, chú cấp nước thêm vào ao, sau đó bố trí giá thể các ống nhựa cắm theo chiều thẳng đứng xuống ao, tính từ khi cấp nước đến thời điểm ngày thứ ba thì bắt đầu kiểm tra các ống nhựa, nếu cá đẻ, trứng sẽ dính bên mặt ngoài ống nhựa. Sau đó tiến hành chuyển các ống nhựa đến bể ấp đã chuẩn bị sẵn. Sau 5 đến 6 ngày, trứng sẽ nở thành cá bột. Cá bột được vớt chuyển sang bể ương cá giống.

Sau nhiều đợt sản xuất, chú đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, trong đó có kinh nghiệm về việc định kỳ phân cỡ trong quá trình ương cá giống.  Bên cạnh đó, chú còn nghiên cứu sử dụng thức ăn công nghiệp để thay thế thức ăn tự chế nhằm tiết kiệm thời gian chế biến thức ăn và hạn chế ô nhiễm môi trường nước.

Chú Vĩnh Gia cho biết: Với số lượng 300 con cá bố mẹ sinh sản (tỉ lệ 2 cái: 1 đực) thì sản xuất được 40.000 cá con. Cá còm một năm chỉ sinh sản một đợt nhưng chia ra từ 5 đến 6 lần sinh sản và bắt đầu sinh sản từ tháng 4 kéo dài đến tháng 8; tỷ lệ đẻ và tỷ lệ nở chiếm đến 90%. Năm 2013, chú cho cá còm sản xuất được 150.000 con cá bột, sau đó ương lên giai đoạn cá hương, với giá bán 2.800 đồng/con, cũng mang về cho chú một nguồn thu không nhỏ.

Theo chú Vĩnh Gia, ở giai đoạn cá bột, cá bột dễ bị hao hụt do ảnh hưởng thay đổi thời tiết dẫn đến cá nhiễm bệnh. Nhưng qua nhiều năm kinh nghiệm trong việc cho sinh sản loài cá này, chú đã có phương pháp để xử lý hạn chế tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn ương giống.

Hiện nay loài cá còm đang bị khai thác quá mức và đứng trước nguy cơ cạn kiệt, việc thực hiện thành công mô hình cho sinh sản cá còm của chú Vĩnh Gia đã góp phần cung cấp một lượng giống cho người nuôi, giảm phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên.

Trần Thị Kim Phướng

Trạm Khuyến nông thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.