1. Tác nhân gây bệnh

- Vi-rút: do vi-rút Tembusu (TMUV) thuộc họ Flaviviridae.

- Vật chủ: Chủ yếu gây bệnh trên vịt (vịt đẻ, vịt thịt, vịt xiêm), ngoài ra có thể lây sang ngỗng, gà, chim bồ câu.

- Đường lây truyền: Lây lan qua muỗi đốt (vật trung gian) hoặc tiếp xúc trực tiếp giữa vịt bệnh và vịt khỏe qua dịch tiết, phân, nguồn nước.

 

2. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh thường tiến triển rất nhanh với các biểu hiện đặc trưng:

- Trên vịt thịt (vịt con):

+ Sốt cao, ủ rũ, kém ăn.

+ Triệu chứng thần kinh rõ rệt: Đi lại khó khăn, chân run rẩy, dễ bị lật ngửa bụng, chân bơi chèo trong không khí.

+ Tỷ lệ chết có thể dao động từ 10% đến 30%, nếu ghép với các bệnh khác (như bại huyết) tỷ lệ chết sẽ cao hơn nhiều.

- Trên vịt đẻ:

+ Giảm ăn đột ngột.

+ Tỷ lệ đẻ tụt giảm nghiêm trọng (có thể giảm từ 70-80% xuống còn 10% chỉ trong vòng 1 tuần).

+ Vịt có biểu hiện tiêu chảy phân xanh, trắng.

leftcenterrightdel
Bệnh Tembusu hay còn gọi là hội chứng lật ngửa, giảm đẻ trên vịt

 

3. Bệnh tích khi mổ khám

- Buồng trứng: Viêm, xuất huyết, các trứng non bị biến dạng, vỡ lòng đỏ gây viêm phúc mạc.

- Não: Xuất huyết hoặc phù nề não.

- Cơ quan nội tạng: Gan và lách thường sưng to, có thể có các điểm xuất huyết nhẹ trên bề mặt.

 

4. Giải pháp phòng bệnh

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị virus Tembusu, do đó việc phòng bệnh là quan trọng nhất. Áp dụng các biện pháp phòng bệnh sau.

- Tiêm phòng vắc-xin: Đây là cách hiệu quả nhất. Hiện đã có các loại vắc-xin (sống hoặc chết) chuyên biệt cho virus Tembusu tại Việt Nam. Nên tiêm cho vịt hậu bị trước khi vào đẻ và vịt thịt ở giai đoạn sớm.

-  Kiểm soát côn trùng: Thường xuyên phun thuốc diệt muỗi, phát quang bụi rậm quanh chuồng nuôi vì muỗi là vật trung gian truyền bệnh chính.

- An toàn sinh học: Sát trùng chuồng trại định kỳ, hạn chế người lạ ra vào khu vực nuôi.

Nguyễn Văn Bắc