Đây cũng là thông điệp xuyên suốt của Tọa đàm “Canh tác sầu riêng thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng theo tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu” do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tổ chức từ ngày 16 đến 17/8/2026.

Sầu riêng Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng: từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Thích ứng với biến đổi khí hậu, chuẩn hóa chất lượng và tuân thủ tiêu chuẩn thị trường nhập khẩu sẽ là những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành hàng trong giai đoạn mới.

Tọa đàm được kỳ vọng là nơi trao đổi của các đại biểu nhằm hướng tới phát triển ngành hàng sầu riêng bền vững ổn định hơn; đi sâu phân tích những lợi thế, thách thức từ đó cùng tìm ra những giải pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu đó. 

leftcenterrightdel
 Toàn cảnh tọa đàm

Ngành sầu riêng: Cơ hội đi kèm thách thức

Những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng nổi bật của ngành nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu rau quả và tạo sinh kế, thu nhập cho hàng trăm nghìn hộ dân.

Theo báo cáo của Trung tâm khuyến nông quốc gia, đến năm 2026 diện tích sầu riêng cả nước ước khoảng 200 nghìn ha phân bố trồng ở các vùng sinh thái đặc thù gồm: Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Cùng với sự gia tăng về diện tích, sản lượng, giá trị xuất khẩu sầu riêng cũng có bước phát triển ấn tượng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam tiến gần mốc 4 tỷ USD, vượt đáng kể mức 3,2 tỷ USD của năm 2024. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt khoảng 1,085 tỷ USD; riêng quý II đạt 863 triệu USD, tăng 289,5% so với quý I và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước. Sầu riêng Việt Nam hiện đã tiếp cận 28 thị trường, trong đó Trung Quốc vẫn chiếm trên 90% tổng giá trị xuất khẩu. Cùng với đó, các thị trường ASEAN, Bắc Mỹ, châu Âu và đặc biệt là Ấn Độ (công báo ngày 9/7/2026) đang mở ra thêm những cơ hội mới cho ngành hàng này.

Tuy nhiên, cơ hội càng lớn thì yêu cầu và thách thức đối với ngành hàng sầu riêng ngày càng cao.

Thách thức đầu tiên là biến đổi khí hậu:

Biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ đến sản xuất sầu riêng tại các vùng sinh thái trọng điểm. Hạn hán, thiếu nước tưới, mưa trái mùa, nắng nóng, bão, lũ, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng sản phẩm sầu riêng. Điều đó cho thấy, thích ứng với biến đổi khí hậu không còn là câu chuyện của tương lai mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết của sản xuất hiện nay.

Giải pháp không chỉ nằm ở việc bổ sung nước hoặc tăng lượng phân bón khi cây gặp bất lợi. Cần một cách tiếp cận tổng thể như: quy hoạch vùng trồng; áp dụng tưới tiết kiệm, tưới tự động; xây dựng ao hồ dự trữ; tăng cường sử dụng phân hữu cơ, cải tạo đất, phát triển bộ rễ khỏe; Quản lý dịch hại tổng hợp, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để người sản xuất có khả năng chủ động ứng phó với những biến động ngày càng khó dự đoán của khí hậu...

Thách thức từ “trồng được” đến “xuất khẩu được”:

Sầu riêng Việt Nam đang phải đáp ứng ngày càng nghiêm ngặt các yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, dư lượng hóa chất, kim loại nặng, chất cấm, mã số vùng trồng (MSVT) và mã số cơ sở đóng gói (CSĐG).

Theo báo cáo tại Tọa đàm, đến tháng 5/2026, cả nước có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu nhiều loại nông sản; riêng thị trường Trung Quốc có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 cơ sở đóng gói được phê duyệt. Tuy nhiên, từ năm 2025 đến nay đã xuất hiện hàng trăm trường hợp bị cảnh báo không tuân thủ, trong đó nhiều mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói bị tạm dừng hoặc thu hồi.

Những con số này gửi đến ngành hàng một thông điệp rất rõ: mã số không phải là “tấm vé” để xuất khẩu một lần, mà là một cam kết phải được duy trì bằng chất lượng và tính tuân thủ trong suốt quá trình sản xuất - thu hoạch - đóng gói - xuất khẩu.

Việc kiểm soát Cadimi, Vàng O và các chỉ tiêu an toàn thực phẩm vì vậy không thể chỉ thực hiện ở khâu cuối cùng. Muốn kiểm soát tốt đầu ra, phải kiểm soát ngay từ đầu vào và trong toàn bộ quá trình canh tác. Người nông dân cần biết mình sử dụng vật tư gì, sử dụng như thế nào, thời điểm nào; ghi chép đầy đủ quá trình sản xuất; thực hiện đúng quy trình; bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc và tuyệt đối không sử dụng hóa chất cấm.

Đây chính là sự chuyển đổi căn bản từ “sản xuất để bán” sang “sản xuất theo yêu cầu của thị trường”.

Thách thức từ phát triển diện tích quá nhanh:

Một trong những vấn đề được nhấn mạnh tại Tọa đàm là yêu cầu phát triển ngành hàng phải gắn với quy hoạch, không chạy theo diện tích. Khi diện tích đã tăng nhanh, việc tiếp tục mở rộng tại những vùng không phù hợp về đất đai, nguồn nước hoặc điều kiện sinh thái có thể làm gia tăng rủi ro như dư cung, dịch bệnh, suy thoái đất và thiệt hại cho chính người sản xuất.

Vì vậy, “trồng ở đâu, trồng như thế nào và sản xuất để bán cho ai” phải được đặt ra ngay từ đầu, thay vì chỉ quan tâm đến năng suất khi sản phẩm đã được tạo ra.

 

Tìm giải pháp để xây dựng ngành hàng sầu riêng bền vững, minh bạch

Từ thực tiễn của ngành hàng sầu riêng, thông điệp quan trọng nhất của Tọa đàm là: không thể xây dựng ngành sầu riêng bền vững bằng tư duy chạy theo diện tích và sản lượng. Năng lực cạnh tranh trong giai đoạn tới sẽ được quyết định bởi chất lượng, an toàn, tính minh bạch, khả năng truy xuất, mức độ tuân thủ và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tọa đàm không chỉ là diễn đàn trao đổi chuyên môn mà còn hướng tới kết nối nhà quản lý - nhà khoa học - chuyên gia - doanh nghiệp - hợp tác xã - hệ thống khuyến nông và người sản xuất, cùng nhận diện những vấn đề đang đặt ra đối với ngành sầu riêng và tìm kiếm các giải pháp có tính thực tiễn, khả thi.

Tọa đàm đã đề xuất kiến nghị việc làm và trách nhiệm của các bên liên quan. Đối với cơ quan quản lý, cần quản lý chặt việc quy hoạch diện tích sầu riêng, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và mở rộng thị trường. Đối với nhà khoa học, cần tiếp tục chuẩn hóa các quy trình canh tác thích ứng với khí hậu và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân, cần tăng cường liên kết chuỗi, tuân thủ quy trình và nói không với gian lận mã số, hóa chất cấm.

Phát biểu tại Tọa đàm, lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xác định hệ thống khuyến nông sẽ luôn đồng hành, đóng vai trò là cầu nối mạnh mẽ hơn giữa chính sách, khoa học công nghệ và thực tiễn sản xuất. Cùng với địa phương, hợp tác xã và doanh nghiệp, hệ thống khuyến nông sẽ tập trung chuyển giao quy trình kỹ thuật, xây dựng mô hình canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu, hỗ trợ người dân thực hiện và duy trì các điều kiện của mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời tăng cường đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông và người sản xuất.

Mỗi vùng trồng đạt chuẩn, mỗi cơ sở đóng gói tuân thủ, mỗi hộ nông dân sản xuất có trách nhiệm chính là một viên gạch xây dựng thương hiệu “Sầu riêng Việt Nam”. Hướng tới một ngành sầu riêng xanh, an toàn và bền vững với khẩu hiệu: thích ứng linh hoạt - chuẩn hóa chất lượng - minh bạch chuỗi giá trị - phát triển bền vững.

Trong khuôn khổ chương trình của Tọa đàm, chiều ngày 16/7/2026, đại biểu đã được tham quan vườn sầu riêng đang trong giai đoạn thu hoạch, đây là vườn sầu riêng đã được cấp mã số vùng trồng. Tại mô hình, đại biểu được đại diện của Trung tâm khuyến nông quốc gia, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật giải đáp các thắc mắc và hướng dẫn chi tiết các bước liên quan đến việc đăng ký mã số vùng trồng trên cổng dịch vụ công quốc gia dichvucong.gov.vn theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 về Quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói./.

leftcenterrightdel
 Các đại biểu tham quan vườn sầu riêng đã được cấp mã số vùng trồng tại xã Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk

Quang Vinh

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia