Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối tới 34 tỉnh, thành phố, các xã, phường, đặc khu trên cả nước cùng các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân liên quan với hơn 1.000 điểm cầu tham gia.
Hội nghị tập trung vào 3 nội dung chính. Thứ nhất là phổ biến các quy định mới của Nghị quyết 36. Thứ hai là làm rõ những điểm mới so với các quy định và quy trình thực hiện trước đây. Thứ ba là đối thoại, giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn để Nghị quyết được triển khai nhanh, thống nhất và không bị hiểu sai.
Hội nghị phổ biến, quán triệt và thống nhất triển khai các quy định mới của Chính phủ, bảo đảm thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Việc cải cách thủ tục sẽ tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong đăng ký, cấp và quản lý mã số, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản. Đây được xem là bước cải cách quan trọng trong lĩnh vực trồng trọt, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong đẩy mạnh phân cấp, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản lý.
Nghị quyết 36 xác lập nguyên tắc thực hiện toàn bộ thủ tục trên môi trường số, để tổ chức, cá nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm. Đồng thời, Nghị quyết giảm thời gian, chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Việc tiền kiểm chỉ áp dụng với những trường hợp thị trường nhập khẩu có yêu cầu. Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng khuyến khích hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Theo Nghị quyết 36, nhiều nội dung quan trọng được đổi mới. Cụ thể, toàn bộ quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện trên môi trường số thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Dữ liệu được quản lý theo nguyên tắc đúng, đủ, sạch, sống và toàn bộ quy trình được công khai, minh bạch.
Chủ tịch UBND cấp xã được giao thực hiện việc cấp, cấp lại mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Đồng thời, cấp xã cũng chịu trách nhiệm hậu kiểm, quản lý, thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số theo quy định.
Thành phần hồ sơ được cắt giảm tối đa, chỉ còn đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói. Quy định mới bãi bỏ bản thuyết minh theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, qua đó giảm 50% thành phần hồ sơ. Nội dung đơn chỉ yêu cầu những thông tin tối thiểu cần thiết và không yêu cầu người dân nộp lại các giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu nhà nước.
Thời gian giải quyết thủ tục cũng được rút ngắn đáng kể. Đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu, thời gian xử lý giảm từ 14 ngày làm việc xuống còn 3 ngày, giảm 11 ngày, tương đương khoảng 78,6%. Đối với trường hợp đăng ký xuất khẩu sang các thị trường yêu cầu mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, thời gian giải quyết còn 10 ngày làm việc, giảm 4 ngày, tương đương khoảng 28,6%.
Dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung, công khai và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cùng các cơ sở dữ liệu liên quan, phục vụ quản lý thống nhất trên phạm vi cả nước.
Nghị quyết cũng bãi bỏ quy định về diện tích tối thiểu, làm rõ việc cấp mã số đối với cây trồng xen canh và xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm nhằm bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc.
Đối với các mã số đã được cấp trước đây, Nghị quyết tiếp tục duy trì hiệu lực nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi không làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.
Dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống nghiệp vụ, công khai trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan. Đây là bước chuyển quan trọng từ quản lý bằng hồ sơ giấy sang quản trị bằng dữ liệu số, góp phần nâng cao tính minh bạch và ngăn ngừa việc sử dụng mã số sai mục đích.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, Nghị quyết 36 được Chính phủ ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ những bất cập trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Trước khi tham mưu ban hành Nghị quyết 36, Bộ đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp, trực tiếp khảo sát tại nhiều tỉnh Tây Nguyên, làm việc với các vùng trồng, cửa khẩu xuất khẩu sầu riêng và nhiều mặt hàng nông sản khác để lắng nghe ý kiến của nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định: “Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết là nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt, đồng thời tạo môi trường hành chính minh bạch, thông thoáng hơn cho người dân và doanh nghiệp”.
    |
 |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp kết luận hội nghị |
Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu việc triển khai Nghị quyết 36 phải được thực hiện ngay, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở; không để quá trình chuyển giao nhiệm vụ làm gián đoạn việc cấp mã số cũng như hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.
Các địa phương cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; khẩn trương bố trí nhân lực, hạ tầng công nghệ và tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh phải phát huy vai trò đầu mối, thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ cơ sở giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Quá trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng thời hạn; tuyệt đối không tự đặt thêm thành phần hồ sơ, thủ tục hoặc điều kiện ngoài quy định. Việc phân cấp mạnh cho cấp xã phải đi đôi với kiểm tra, giám sát và hậu kiểm thực chất, tránh tình trạng cấp nhanh nhưng buông lỏng quản lý.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ thấp tiêu chuẩn. Các vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu vẫn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, kiểm soát sinh vật gây hại, ghi chép hồ sơ và truy xuất nguồn gốc theo quy định của từng thị trường nhập khẩu. Trường hợp vi phạm hoặc không duy trì điều kiện kỹ thuật sẽ bị tạm dừng, thu hồi mã số theo quy định.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kỳ vọng Nghị quyết 36 sẽ tạo chuyển biến mạnh trong quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, giảm thời gian và chi phí thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị nông sản.
|
Tại Hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh 3 nội dung quan trọng khi thực hiện Nghị quyết này. Đó là:
Cấp mã số online toàn trình và cá nhân chịu trách nhiệm.
Hậu kiểm là chính, tiền kiểm chỉ làm khi các nước có yêu cầu, hậu kiểm tiến hành trong vòng 3 tháng.
Cấp mã số vùng trồng theo mã định danh thửa đất. Khuyến khích hình thành các vùng sản xuất lớn để thuận lợi cho công tác xuất khẩu.
Ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, Trung tâm sẽ vào cuộc để đơn giản hóa các nội dung của Nghị quyết bằng sổ tay, tờ rơi, học liệu, tổ chức các lớp tập huấn để hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân thực hiện Nghị quyết 36.
|
Việt Oanh
Trung tâm Khuyến nông quốc gia